Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2005

Paris ẩm thực

Những nhà hàng trên phố rất đặc trưng Paris
TCN - Có một câu nói vui truyền miệng của dân châu Âu: thế giới là thiên đường nếu tất cả cảnh sát là người Anh, đầu bếp là người Pháp, thợ máy là người Đức, người tình là người Ý và tất cả mọi thứ được sắp đặt bởi người Thụy Sĩ.

Ngược lại, thế giới là địa ngục khi tất cả cảnh sát là người Đức, thợ máy là người Pháp, người tình là người Thụy Sĩ, đầu bếp là người Anh và tất cả mọi thứ được sắp đặt bởi người Ý.

Đang sống và học tập ở Anh, tuy không đến nỗi phải than vãn về những món ăn của các đầu bếp Ănglê nhưng vốn có “tâm hồn ăn uống” và vốn mê đồ ăn Pháp, nhân nghỉ lễ Phục sinh tôi làm một chuyến qua Paris ngay để ăn uống thỏa chí một tuần.

Văn hóa ẩm thực VN ảnh hưởng rất nhiều từ người Pháp, dễ thấy nhất qua thói quen uống cà phê buổi sáng (trong những tấm postcard Paris bán cho du khách trên đường phố, bên cạnh những tấm ảnh chụp tháp Eiffel, Khải Hoàn môn, sông Seine… có những tấm ảnh chỉ chụp những tách cà phê bốc khói nghi ngút).

Dân Paris trước khi đi làm thường uống cafe express - cà phê đen có hoặc không có đường trong tách nhỏ, cafe au lait - cà phê pha thật nhiều sữa nóng uống trong những tách lớn, có khi to bằng chén ăn cơm, và cafe crème - thức uống đặc trưng Pháp với cà phê pha kem sủi bọt nâu thơm lừng.

Trong khi người Anh ăn rất nhiều vào buổi sáng với thịt heo muối, trứng ốpla, xúc xích, bánh sandwich nướng..., người Pháp ăn sáng nhẹ, thường là bánh mì baguette, giống y bánh mì VN nhưng nhỏ và dài, kẹp xà lách, thịt jambon và bơ. Khác với những gì ta thường nghĩ, dân Paris không ăn bánh sừng trâu (croissant) mỗi sáng mà chỉ dành cho những ngày cuối tuần.

Buổi sáng trên hai đường phố Rue de Seine và Rue de Guci ở khu phố Latinh phía nam Paris vốn nổi tiếng với những hàng ăn rất ngon, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt là hàng bánh mì lề đường mà tôi chưa thấy ở đâu ngoài VN. Người bán thoăn thoắt xẻ bánh mì, kẹp thịt, nhồi rau, nhưng thay vì có chút nước tương hoặc muối tiêu thì bánh mì thịt kiểu Pháp có sốt mayonaise béo ngậy.

Rất dễ bắt gặp những cửa hiệu bánh mì như thế này trên đường phố Paris
Khi phát hiện xe gà quay với hàng dãy gà béo núc, quay đều, tươm mỡ vàng ươm, tỏa mùi thơm phưng phức; tôi chọn mua bánh mì kẹp gà quay rồi cùng Daniel đi bộ đến vườn Luxembourg gần đó làm một buổi picnic nho nhỏ. Những miếng bánh giòn tan, đậm đà làm tôi nhớ quá VN.

Hôm sau tôi gọi điện cho Benjamin. Khi Ben còn vác balô du lịch Sài Gòn hồi năm ngoái, anh được tôi dẫn đi ăn phở tái nạm gầu gân ở quận 1. Ben làm một mạch hết tô phở to đùng rồi uống một hơi hết ly sinh tố xoài, khen hết lời “Ngon quá! Ngon quá!”. Để đáp lễ, Ben hẹn buổi tối sẽ dẫn chúng tôi tới một quán ăn Pháp chính gốc mà theo lời anh “khách du lịch không biết được đâu nhe”.

Quán ăn Ben dẫn chúng tôi đến mãi 12g khuya mới có bàn trống. Đó là nhà hàng nằm trên một góc phố nhỏ, chật hẹp với những bộ bàn ghế gỗ trải khăn nhựa carô (lại một điểm giống VN nữa). Thực đơn viết bằng phấn trắng trên bảng đen cũ kỹ, treo trên những bức tường ám khói và không có bản tiếng Anh như khu khách du lịch dọc sông Seine.

Chúng tôi chọn món khoai tây chiên sơ trên trải những lát jambon cru- thịt heo không nấu chín mà xông khói đỏ au thơm lừng, béo ngậy và thơm mùi phó mát Pháp lẫn nấm tươi. Sau bữa ăn no căng bụng, tôi vẫn chọn món tráng miệng bánh gatô kiểu xứ Basque vàng ruộm, thơm mùi hạnh nhân.

Khi bánh xèo VN được biết đến nhiều trên thế giới, rất nhiều người cho là bánh xèo bắt nguồn từ bánh crêpe. Bánh crêpe Pháp cũng làm bằng bột pha nước, tráng mỏng trên khuôn cho tới khi ngả vàng, kẹp nhân ngọt (đường, bơ, kem, bơ đậu phộng) hoặc nhân mặn (trứng, jambon, hải sản). Bánh crêpe nhân bơ mặn ở Pháp thành thật mà nói không thể ngon bằng bánh xèo nhân tôm kẹp rau sống chấm nước mắm chua ngọt mẹ tôi làm.

Paris còn nổi tiếng về những món ăn từ hải sản tươi từ Brittany và Provence chở về. Chợ hải sản Paris là một bữa tiệc về hình ảnh, màu sắc, mùi vị của đủ chủng loại cá tươi, tôm hùm béo núc, cua lớn bằng hai bàn tay, sò điệp đỏ au, hàu xù xì gai xám, mực nang trắng phau... Chúng tôi đến đây đúng tuần lễ ẩm thực sò, những quán ăn Paris đua nhau đưa sò làm món ăn trong ngày (plat du jour).

Chợ hải sản với đủ loại tôm cá từ những vùng biển miền Nam nước Pháp chở về
Trong khi hải sản ở Anh mắc như vàng theo đúng nghĩa đen thì một thố sò đầy ngồn ngộn trong một quán ăn gần nhà thờ Đức Bà giá chỉ 8 euro (khoảng 160.000 đồng), rất rẻ so với vật giá châu Âu. Những con sò Địa Trung Hải tươi rói, đầy ắp thịt, được hấp rượu vang trắng, hành tây và rau mùi xắt nhuyễn, thơm lừng, nhấm nháp với rượu Bordeaux trắng thật đúng điệu.

Không chỉ ẩm thực VN chịu ảnh hưởng của Pháp mà ngược lại ẩm thực Pháp cũng du nhập rất nhiều món ăn Việt. Sách du lịch Lonely planet viết về VN nhiều nhất trong phần viết về ẩm thực nước ngoài ở Paris. Người Pháp đưa món chả giò và phở bò vào thực đơn nhiều nhà hàng truyền thống Pháp với cái tên le nem và le pho, cũng như người Anh lấy càri Ân Độ làm một trong những món truyền thống Anh vậy.

Còn món bánh tráng cuốn tôm luộc, bún tươi và rau thơm ăn kèm nước chấm tương tự những quán lề đường gần hồ Con Rùa trước đây cũng nằm trong những quán ăn sang trọng Paris với cái tên rất “kêu” rouleux du printemps (nem cuốn mùa xuân).

Đến lúc tạm biệt thủ đô Pháp, tôi đã thật sự tiếc nuối vì không đủ thời gian để nếm thử tất cả những món ăn Pháp nổi tiếng thế giới như foie gras, pâté du tête (món patê rất giống giò thủ VN), phó mát camembert (rất nặng mùi nhưng khi đã ăn được rồi rất dễ ghiền như người Việt mê ăn sầu riêng vậy), súp hành mà một phóng viên người Mỹ từng so với phở VN, và tất nhiên, rượu vang Pháp đủ mùi vị chủng loại từng làm say đắm không biết bao nhiêu người.

Đến Paris với hành lý nhẹ hẫng, tôi về lại Anh với một vali nặng trĩu những rượu vang, phó mát, bơ, jambon, xúc xích, hải sản đóng hộp, dầu ôliu nguyên chất, viên súp... làm quà cho bạn và cho mình.

Và trong khi gà gật ngủ chờ chuyến bay, tôi mơ thấy hai giáo sư ở trường đổi đề tài hai bài luận sắp đến hạn tôi phải nộp: không phải về nghiên cứu thị trường và quản lý nhân sự nữa mà về ẩm thực Paris!

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2005

Ngày cuối năm ở Vienna...

TTCN - Daniel và tôi đi Vienna vào những ngày cuối năm, khi tuyết rơi trắng xóa khắp miền Tây nước Áo nhưng ở thủ đô không có một giọt tuyết nào, chỉ có gió thổi lùa vào sáu, bảy lớp áo đủ làm lạnh run cầm cập.

Bạn trai tôi Daniel là người Áo nhưng học ở Thụy Sĩ, lần cuối cùng anh đến Vienna cũng đã cách đây mấy năm, còn tôi chưa từng đến đây lần nào. Vậy nên sau bữa ăn sáng kiểu Viennese với cà phê nóng hổi, bánh mì và thịt nguội ở nhà Thomas - chú ruột của anh, chúng tôi lấy lại sức sau hơn bảy tiếng đồng hồ trên xe lửa và háo hức muốn đi thăm thành phố ngay.

Cuốn Rough guide trong phần giới thiệu về Vienna đã viết: “Những du khách lần đầu đến Vienna đều vẽ sẵn trong đầu hình ảnh một nơi lãng mạn với những hoài cổ Habsburg và những âm hưởng nhạc”.

Thật vậy, khi chú Thomas chở hai đứa tôi đi vòng quanh thành phố, qua những công trình kiến trúc kiểu Baroque từ thế kỷ 18 đẹp như mơ bên những cây mùa đông trụi lá, tôi thốt lên: “Trời, giống như đang xem chương trình vòng quanh thế giới trên TV vậy”. Daniel cười: “Chừng nào tới TP.HCM chắc tôi cũng nói vậy”. Đúng là người ta chỉ quí những gì mình không có.

Ở Ringstrasse, nơi tập trung hầu hết những địa danh nổi tiếng của thành phố, tôi đặc biệt thích lâu đài Hoàng gia (Hofburg), một khu phức hợp tượng trưng cho văn hóa và di sản Vienna được xây từ năm 1275 với 19 sân, 18 cánh rộng mênh mông. Gia đình hoàng gia Áo đã ở đây suốt sáu thế kỷ: từ thời Rudolf đệ nhất năm 1279 đến Charles đệ nhất năm 1918. Những cỗ xe ngựa chở khách du lịch đi vòng quanh thành phố nằm chờ ở đây, gợi nhớ đến những bộ phim về châu Âu thời xa xưa.

Những cỗ xe ngựa chở du khách trong sân lâu đài Hoàng gia
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler về Vienna và tuyên bố “mối liên hệ giữa nước Áo và nước Đức phát xít” tại Hofburg. (Hitler là người gốc Áo nhưng bạn chớ dại dột đề cập chuyện ấy với người địa phương vì người Áo rất xấu hổ về điều này. Vả lại, Áo là quê hương của rất nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới khác để nhắc đến như nhà phân tâm học Sigmund Freud hay các thiên tài âm nhạc Mozart, Strauss, Beethoven...).

Mùa hè, những quán cà phê còn kê bàn ghế ra ngoài đường - đúng kiểu cà phê al fresco châu Âu, nhưng với cái lạnh 2OC có lẽ không ai thích ngồi uống cà phê ngoài phố. Ở khu phố đi bộ Karntner Strasse với những nghệ sĩ lang thang chơi guitar, violon và kèn trumpet, tôi bật cười khi bắt gặp một quán bar tên Loos (trong tiếng lóng của người Anh, loo có nghĩa là… toilet).

Sau tôi mới biết đây là một quán bar nổi tiếng được kiến trúc sư người Mỹ Adolf Loos, một trong những nghệ sĩ theo trường phái nghệ thuật mới (Art-Nouveau), vẽ kiểu vào năm 1908.

Quán Loos
Khu phố đi bộ Kohlmarkt - có nghĩa là Chợ Than vì ở đây trước là nơi bán than (cách đặt tên khác nào phố Hàng Than của 36 phố phường Hà Nội) - chẳng hề đen đúa như tên gọi, ngược lại những con đường ở đây sạch sẽ và sang trọng hơn đâu hết!

Ở cuối Kohlmarkt là quảng trường Michaelerplatz, nơi có tòa nhà Looshaus xây dựng vào năm 1911 cũng của KTS Adolf Loos, bây giờ là trụ sở ngân hàng. Cựu hoàng đế Áo Frank Joseph rất ghét tòa nhà này và gọi những cửa sổ ở đây là “cửa sổ không có lông mày” (vì những cửa sổ kiểu Loos không có những hình chạm khắc trang trí bên ngoài như ở những kiến trúc Vienna khác).

Ở các quảng trường lớn của Vienna có những anh chàng trẻ măng, có lẽ là sinh viên đi làm bán thời gian, mặc quần áo hoàng gia đứng cầm những tấm brochure thu hút khách du lịch đi xem hòa nhạc, uống cà phê hay đi tour vòng quanh phố cổ
Một trong những địa điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất ở Vienna là Hundertwasserhaus, khu chung cư được nghệ sĩ người Áo Friedensreich Hundertwasser thiết kế. Ông chuyển đổi những căn hộ bình thường thành một khu đầy màu sắc, trông như đồ chơi của trẻ con, biến nó thành một địa danh nổi tiếng
Trong cửa hiệu nữ trang Swarovsky nổi tiếng của thành Vienna
Phía đông Stephansdom là những con hẻm còn giữ lại dấu ấn nguyên thủy của thành phố, đặc biệt tòa nhà số 8 đường Raubensteingasse là nơi Mozart qua đời khi đang sáng tác bản Lễ cầu hồn (Requiem). Vienna là cái nôi âm nhạc cổ điển, xuất xứ của điệu valse dìu dặt, và người dân ở đây rất tự hào với những dấu ấn âm nhạc như tòa nhà Opera nổi tiếng thế giới, bộ sưu tập nhạc cụ cổ, nhà hát lớn...

Bên cạnh đó còn có những ngôi nhà nơi các thiên tài âm nhạc như Beethoven, Haydn, Mozart, Schubert... sống và sáng tác những bản nhạc bất hủ, trong đó không thể không nhắc tới Johan Strauss với khúc luân vũ bất tử An der schưnen, blauen Donau, được biết đến ở VN với cái tên Dòng sông xanh hay Sóng sông Danube.

Tôi đến sông Danube (sông Donau theo tiếng địa phương) vào buổi trưa ngày cuối năm 2004. Gió thổi hắt từ nước sông lạnh buốt và con sông mùa đông không xanh màu da trời như trong bài hát. Sông Danube dài 2.840km uốn lượn qua nhiều nước châu Âu, nhưng với bản nhạc của Strauss, trong trí nhớ nhiều người đó là con sông xanh của thủ đô nước Áo mà thôi.

Đêm cuối năm, chúng tôi đi dạo từ Spiegelgasse, khu phố yên tĩnh treo đầy đèn hình sao và bông tuyết về lại Stephansplatz, nơi hàng trăm ngàn người dân Vienna và khách du lịch chen chúc xem pháo hoa bắn lên nền trời những đường lượn rực rỡ mừng năm mới.

Đêm giao thừa ở Vienna
Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ phải lên chuyến bay đầu tiên từ Vienna về London vào sáng sớm ngày đầu năm 2005, nhưng hình ảnh pháo hoa lúc nửa đêm, những ngôi nhà cổ, thánh đường uy nghiêm, xe ngựa, sông Danube và những hoài cổ Habsburg sẽ còn theo tôi cho đến khi tôi quay lại nơi đây lần nữa. 

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN
Vienna, Southampton 1-2005

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2005

Tạp bút: Quê quán tôi xưa

TTCN - Tôi hiếm khi nhớ nhà trong những chuyến đi xa, nhưng tự nhiên những ngày cuối năm tôi thường hay nghĩ về quê cũ. Không phải Sài Gòn, nơi gia đình tôi đang ở mà là quê cũ ở thôn Thanh Minh, cách thành phố Nha Trang 15km kia.

Ảnh: Lâm Viên

Có lẽ vì khi nói đến “quê”, người ta thường nhớ đến những nơi xa lắc quê mùa mà mình sống những ngày còn nhỏ.

Mùa đông ở Anh thường mưa. Tôi nằm trùm chăn đọc sách, thỉnh thoảng nhìn ra cửa sổ, nơi những cành cây khẳng khiu trụi lá vẽ lên nền trời xám những đường ngoằn ngoèo. Hồi tôi học đại học, mẹ thường nói sao mẹ hay mơ thấy nhà cũ quá Biên ơi! (Biên là tên ở nhà của tôi), tôi hay nhăn mặt: “Nhớ gì không biết nữa, ở Sài Gòn có con không vui sao?”.

Nhưng càng gần đến cuối năm, tôi càng nhớ ngôi nhà cũ nền đất lợp ngói âm dương, có cây sabôchê tôi hay trèo lên trốn mỗi lần làm biếng đi tắm hay đi ăn cơm. Hồi còn ba, trước nhà còn có cây mai lớn quanh năm đầy sâu, nhưng tết đến sâu đi đâu mất, chỉ có hoa mai nở vàng rực.

Tôi mê chơi búp bê tóc vàng mắt xanh nhưng mẹ nói “để tiền mẹ mua đồ ăn với sách vở chớ, tiền đâu mua búp bê chơi” nên tôi phải nghĩ ra trò khác. Buổi chiều tôi thường ra khoảng sân đất trước nhà lấy que ngồi vẽ công chúa. Trên sân có nhiều con cúc, giống con bọ nhưng nhỏ bằng móng tay út em bé, mềm mềm, sống dưới những lỗ nhỏ xíu đào dưới đất rất khó thấy. Mỗi lần bắt gặp một lỗ như vậy tôi lại bứt tóc xe lại cho vào lỗ câu cúc lên, bỏ lên tay cho bò qua bò lại nhồn nhột.

Chơi một mình chán, tôi chạy qua nhà dì Tư (dì Tư nấu chè trôi nước ngon tuyệt, bây giờ nghĩ lại tôi còn thèm) rủ con Trâm qua chơi chung. Tôi bày nó đào đất, lấy đất nhào nước chơi đúc bánh, thường sau mỗi lần chơi những cái bánh đất tròn tròn vương vãi đầy sân. Dì Tư rất ghét trò này nên mỗi lần qua rủ nó chơi tôi phải lén lút như ăn trộm. Con Trâm lớn lên rất xinh đẹp và cũng như đám bạn cũ của tôi đã có chồng, còn tôi cứ đi hoài hết công tác đến hội nghị và bây giờ lang thang cách quê mười mấy tiếng đồng hồ bay.

Tôi về thăm quê, hàng xóm cũ cứ hỏi: “Bé Uyên đi được mấy nước rồi con? Chừng nào mày có chồng?” (Lúc đầu tôi ngạc nhiên thấy người làng gọi mình là “bé”, nhưng sau tôi đoán có lẽ vì đối với người ở quê tôi vẫn là con nhỏ buổi trưa hay vác cây sào dài ngoằng đi hái trứng cá hết nhà này đến nhà khác).

Bốn tháng nay tôi không có một hột cơm vô bụng. Mẹ gọi điện nói: “Hay con mua nồi cơm điện nấu cơm ăn chung với bạn, gì thì gì cơm cũng tốt hơn chớ!”. Tôi cười bảo con ở chung với hai đứa người Anh, một đứa Ailen, bị tụi nó ảnh hưởng rồi con không ăn cơm đâu. Nói vậy cho mẹ khỏi lo nhưng tôi biết mình nhớ cơm nguội với cá cơm kho khô cong cho nhiều tiêu thật cay, hay cơm nóng mới nấu với canh chua nóng hổi.

Gần đây, mỗi lần vừa coi Tony Blair đọc diễn văn trên BBC hay Cold Play chơi rock trên Channel 4, vừa gặm sandwich hay nhai spaghetti, tôi lại nhớ những bữa ăn ngon lành ở quê. Tôi thích ăn bánh căn (mà ở miền Nam gọi là bánh khọt) nên mỗi sáng thường đem một cái trứng vịt ra chỗ bán bánh bảo thêm trứng vào bột. Bánh căn giòn tan, phủ một lớp trứng vàng rộm ăn với nước cá và mỡ hành béo ngậy ngon lành.

Bánh căn thịt bằm là một món xa xỉ mà tôi hiếm khi được ăn, nhưng gần đây nghĩ lại thấy vậy mà hay vì ăn bánh căn không thịt có cái thú nhấm nháp riêng. Chán bánh căn tôi đổi qua tiệm bánh ướt cô Luyến, không phải bánh ướt phủ trên đĩa rắc đậu xanh mà phải là bánh ướt mới vớt ra từ khuôn nghi ngút khói, tuốt trực tiếp từ đũa cả vớt bánh, ăn với mắm ớt và chả lụa mỏng như lưỡi mèo gói lá chuốt dày cộm. Tôi cũng nhớ tô bánh canh nấu cá dầm, thả những lát chả cá mỏng gió thổi cũng bay, rắc hành tiêu thơm nức mũi tôi thường xì xụp húp…

Mới đây tôi nằm mơ thấy mình sắp chết. Mà lạ tôi nằm mơ thấy nhà cũ ở quê chứ không phải nhà ở Sài Gòn. Đi báo cho mọi người biết nhưng không ai tin, tôi nằm nhà khóc hu hu. Tỉnh dậy, tôi nhớ đến một bài hát của Trịnh Công Sơn “Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời, dù thật lệ rơi lòng không buồn mấy, giật mình tỉnh ra, ồ nắng lên rồi...”.

Tôi rờ tay lên má, không có giọt nước mắt nào, ngoài cửa nắng cũng chẳng lên mặc dù đã hơn mười một giờ trưa. Sương mù dày đặc bên ngoài, ống khói nhà gần bên chỉ thấy mờ mờ trong sương. Mấy con chim hay đứng hót trước cửa sổ phòng tôi sáng nay cũng không thấy đâu, chắc đã bay qua trú đông ở những nơi ấm áp hơn như Ý hay Tây Ban Nha mất rồi.

Đứa bạn chung nhà gõ cửa đưa tôi tách trà, bảo “TV mới nói tuyết rơi ở Scotland với Xứ Wales rồi đó, vài bữa nữa thế nào nước mình cũng có tuyết thôi”. Nước mình? Tôi uống trà, bảo: “Vậy hả? Chắc vài bữa còn lạnh nữa, phải mua thêm áo ấm thôi”.

Tôi viết bài này khi ngồi trên xe anh bạn thân trên đường từ Southampton đến Bristol xem bóng đá, và khi nhìn ra cửa sổ xe thấy làng quê nước Anh với những cánh đồng trải dài có đàn cừu trắng toát gặm cỏ, tôi lại nhớ quê quán tôi xưa... Mà lạ, ở quê tôi có bao giờ thấy con cừu nào đâu, sao tự nhiên nhớ kỳ cục?…

(Harpenden, những ngày cuối năm)

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2004

Đi tìm dấu vết The Beatles

TTCN - Trong cuốn sổ tay du lịch tôi được tặng trước khi sang Anh du học, phần viết về Liverpool chỉ có hai hình minh họa, trong đó một vẽ bốn chàng trai trong ban nhạc huyền thoại The Beatles. Chừng đó đủ biết Fab Four - tên gọi thân mật của The Beatles - có ý nghĩa như thế nào đối với thành phố cảng miền Bắc nước Anh này.

Tứ quái nhìn bởi họa sĩ David O’Keeffe
Đó là một ngày đầu thu. Mùa thu ở Anh, đặc biệt là ở miền bắc, rất lạnh nhưng tôi hăm hở dậy thật sớm đón một trong những chuyến xe sớm nhất trong ngày để khám phá Liverpool và cảm nhận không khí Beatles trọn vẹn. Quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi vặn Đài Virgin Radio, sau những bản nhạc rock quen thuộc trong tháng (một anh bạn bảo mới nghe Virgin Radio rất thích vì nhạc hay, nhưng sau vài ngày rất dễ... nổi điên vì cứ nghe đi nghe lại những bài hát y chang vậy), tôi tỉnh ngủ hẳn khi nghe giọng John Lennon: “Tất cả những nơi ấy đều có những khoảnh khắc riêng với những người yêu và bạn bè tôi vẫn còn nhớ... Nhưng tất cả những bạn bè và người yêu ấy đều không thể so sánh với em” (In my life). Virgin Radio rất hiếm khi chơi The Beatles, thế mới lạ.

Biểu tượng Liverpool với tứ quái The Beatles
Đến Liverpool vào tháng chín quả không đúng lúc vì Hội nghị quốc tế về The Beatles đã diễn ra một tháng trước đó, còn Liverpool Mow - lễ hội âm nhạc hằng năm với những ban nhạc địa phương có triển vọng - lại được tổ chức vào tháng mười. Nhưng không khí âm nhạc vẫn tràn ngập thành phố rộn rã này, trong dòng người tấp nập đi mua sắm ngày cuối tuần, trong những cửa hiệu bán nhạc cụ bên đường, và ngay cả trong những góc phố khuất nẻo ít ai để ý đến.

Giọng Liverpool rất khó nghe, ngay cả đối với người Anh đến từ những vùng khác. (Giống như người Sài Gòn lần đầu đi Huế rất dễ kêu trời vì không hiểu người Huế nói gì). Được một người địa phương nhiệt tình chỉ cặn kẽ đường đến quảng trường thành phố, và với tấm bản đồ trong tay tôi hoang mang với một mớ rối rắm những từ địa phương và cách phát âm đặc trưng Liverpool nghe câu được câu mất.

Cuối cùng tôi cũng đến được quảng trường thành phố, quả không uổng công lặn lội. Quảng trường đầy nắng và tràn ngập những nốt nhạc réo rắt của những nghệ sĩ lang thang. Ở đó tôi nghe lại những ca khúc The Beatles quen thuộc And I love her, Hey Jude... và bản nhạc tôi rất thích mà đã nhiều năm không nghe lại “Tôi yêu em tám ngày mỗi tuần... Tám ngày mỗi tuần cũng không đủ chứng tỏ tôi quan tâm đến chừng nào...” (Eight days a week). Bài hát làm tôi mỉm cười.

Bức tượng Dooley với câu “Bốn gã trai làm rung chuyển thế giới”
Mặc dù rất muốn ngồi nán lại nghe thêm các giai điệu của Fab Four, tôi quyết định đi thăm những nơi khác ở Liverpool. Trên bản đồ một địa điểm được đánh dấu với cái tên “Câu chuyện The Beatles” ở cảng Albert. Tôi hỏi người đàn ông trung niên có khuôn mặt vui vẻ ngồi nghe nhạc cùng bậc thềm. Thật may mắn, ông không nói giọng Liverpool, và may hơn nữa ông cũng muốn đến cảng Albert thăm bảo tàng nghệ thuật thành phố ở gần đó.

Trên đường đi, tôi hỏi: “Sao giọng Liverpool khó nghe nhưng giọng The Beatles lại dễ nghe vậy!”. Ông cười xòa: “Phải đổi chút ít chứ, ai lại mang giọng địa phương đặc sệt vào âm nhạc hiện đại. Nhưng đời thường Fab Four vẫn nói giọng Liverpool đấy. À, đường này rẽ vào Cavern Club, cô có muốn vào cho biết không?”.

Trong cuốn guidebook có viết về Cavern Club, nơi tứ quái từng chơi nhạc từ khi còn “hàn vi” đến lúc lên đỉnh cao âm nhạc. Rẽ vào đường Mathew, một con đường khá nhỏ so với mức độ nổi tiếng của nó, là đến Cavern Pub, một quán rượu bên ngoài có dựng tượng John Lennon cầm đàn guitar to bằng người thật. Trên khắp bức tường bên ngoài quán có khắc tên tất cả những nghệ sĩ từng biểu diễn ở Cavern Club từ 1957 - 1973, trong đó có không ít tên tuổi dữ dằn không kém như Eric Clapton, The Rolling Stones, Status Quo, The Who, Rod Stewart, Queen, Stevie Wonder, Elton John, Jimi Hendrix. Đối diện Cavern Pub là Cavern Club, nhưng thật đáng tiếc Cavern Club thật đã bị đập bỏ vào thập niên 1970, nơi chúng tôi đến chỉ là một phiên bản giống hệt trên nền ngôi nhà cũ và dùng lại những viên gạch cũ của Cavern Club ngày xưa. Tôi thắc mắc sao đập đi rồi xây lại y vậy làm gì mất hết ý nghĩa, ông bạn đồng hành nhún vai: “Nhiều khi dân Liverpool điên điên vậy đó. À, mà tôi không phải dân Liverpool đâu nghe!”.

Cavern Club
Bức tường khắc tên các tên tuổi lớn của làng nhạc đã từng chơi tại quán Cavern
Dù vậy tôi vẫn có cảm giác bồi hồi khi đi bộ xuống cầu thang đá mờ mờ ánh điện vàng, xuống sảnh chính lung linh ánh nến với sân khấu cũng bằng đá, những cây đàn guitar điện và chiếc trống của Ringo Starr có chữ Ludwig The Beatles. Người đàn ông tốt bụng bảo tôi: “Trên đường Slater có quán bar tên Jacaranda, Beatles cũng từng chơi ở đó. Nếu còn thời gian cuối ngày cô đến đó cho biết, quán bar này chính hiệu, hi vọng họ không có ý định đập nó như Cavern Club”.

Đường Mathew có một cửa hiệu tên Beatles Shop rất nổi tiếng, với bộ sưu tập lớn nhất những đồ lưu niệm và đĩa nhạc Beatles. Song trên đường đi, bắt gặp bảng hiệu “Tặng bản đồ âm nhạc Beatles” và mũi tên chỉ đến một shop có tên From Me To You, chúng tôi quyết định đến đó.

Cách thức marketing này quả hiệu nghiệm: rất nhiều du khách đến From Me To You, sau khi được chủ tiệm vui vẻ tặng tấm bản đồ in màu, hầu như ai cũng nán lại mua một món gì đó: áo thun The Beatles, đĩa nhạc, hay vài tấm postcard... Theo bản đồ, không lâu sau sẽ đến một khách sạn ở khu này mang tên Hard Day’s Night hotel. Những ai yêu nhạc ắt nhận ra đó là tên một bài hát của Fab Four - A hard day’s night (Đêm sau một ngày mệt nhọc).

Tôi tạm biệt người dẫn đường vui tính ở cảng Albert, nơi chiếc tàu neo gần bờ đang phát ra bài Yellow Submarine, và mua vé đi tour “Câu chuyện The Beatles” để làm một chuyến lữ hành hoài cổ ngược về lịch sử “bốn gã trai làm rung chuyển thế giới”, câu được khắc trên bức tượng Dooley trên đường Mathew.

Chiếc tàu ngầm vàng nổi tiếng của bài hát bất hủ Yellow submarine
Trời ngả về chiều, tôi rời cảng lên xe buýt đến giao lộ Penny Lane. Giữa giao lộ có một căn chòi nhỏ (shelter), gợi nhớ ngay đến lời bài Penny Lane do Paul McCartney sáng tác về thời thơ ấu của mình: “Phía sau căn chòi nhỏ ở chính giữa giao lộ, cô y tá xinh đẹp đang bán hoa thuốc phiện trên một cái khay”.

Một thời nhạc The Beatles bị chỉ trích rằng có những bài hát của họ cổ súy lối sống buông thả với ma túy (trong đó “khét tiếng” nhất là Lucy in the Sky with Diamond với tên viết tắt LSD, một loại ma túy cực mạnh. Các nhà phê bình cho rằng bài hát này nói về cảm giác lâng lâng khi “phê”, nhưng The Beatles lại khăng khăng cho rằng đó không phải ý của họ).

Penny Lane chỉ là một con đường rất bình thường như mọi con đường khác, với những ngôi nhà gạch đỏ rèm cửa viền ren trắng trải dài dưới ánh nắng cuối ngày. Đầu đường có một quán rượu cùng tên, trên tường khắc trọn vẹn lời bài hát của Paul. Cạnh đó là một panô quảng cáo dự án biến Penny Lane thành một địa danh nổi tiếng hơn nữa với cách chơi chữ rất khéo “Penny Lane not just any lane” (Penny Lane chứ không phải một con đường bình thường).

Lang thang cuối ngày, tôi còn muốn đến Strawberry Fields (Những Cánh Đồng Dâu), địa danh trong bài Strawberry Fields forever, nhưng đường đến đó còn xa quá nên đành luyến tiếc hẹn dịp khác. Cũng cần phải nói thêm, đây chỉ là tên địa danh, nếu muốn đến để... hái dâu bạn sẽ rất thất vọng vì ở đó chẳng có trái dâu nào! Và suốt một tiếng đồng hồ trên xe buýt về chỗ trọ, trong đầu tôi cứ luẩn quẩn mãi những bài hát của The Beatles: “Con đường dài quanh co dẫn đến nhà em sẽ không bao giờ biến mất, tôi đã thấy con đường ấy trước đây”... “Penny vang trong tai tôi, đọng trong mắt tôi. Ở đó, dưới bầu trời ngoại thành xanh thẳm, tôi ngồi...”.

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN
(Southampton, 10-2004)

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2004

Xã hội 2.000 Watt

TTCN - Từ 8 đến 28-7 tôi bay sang Thụy Sĩ để tham gia khóa đào tạo “Gặp gỡ thanh niên về phát triển bền vững”. Khóa học được tổ chức dưới chủ đề “Cuộc sống cho 10 tỉ người”.

Giáng Uyên (thứ ba từ phải sang) và các bạn cùng khóa học
Một trong những hoạt động được 37 học viên, phần lớn là sinh viên cao học các khoa kỹ thuật, công nghệ và môi trường, hưởng ứng nhiệt tình nhất là buổi chinh phục dãy núi Alps của Thụy Sĩ. Dọc đường đi, bên những phiến đá mấp mô, hoa đủ màu sắc đua nhau nở mặc thời tiết buốt giá. Thỉnh thoảng bắt gặp những vũng tuyết trắng xóa trên triền núi ngay giữa mùa hè, cả đám lại ùa tới vốc tuyết ném nhau.

Không khí trên núi trong như pha lê, ngọt như giọt sương đọng trên bông hoa dại nở vàng bên dòng suối chảy xiết qua những viên đá cuội trắng muốt. Tôi hít căng lồng ngực không khí sớm mai, kéo tay cô bạn đi cùng: “Nghĩ gì vậy?”. “À, đang nghĩ làm thế nào để thành phố mình cũng được trong lành như thế này, không còn ô nhiễm, khói bụi, ồn ào nữa”. Cả đám nhao nhao: “Sao giống mình quá vậy?”.

Trên đường đi, chúng tôi ghé thăm nơi làm phó mát từ sữa bò và sữa dê theo cách cổ truyền vùng Glarus. Một đất nước phát triển như Thụy Sĩ, với những nhãn hiệu sôcôla và phó mát sản xuất hàng loạt nổi tiếng thế giới, vẫn còn giữ cách sản xuất thủ công như vậy. Thầy Roger giải thích: “Đây cũng là một khía cạnh nhỏ của phát triển bền vững, giữ lại cho các thế hệ sau những tinh hoa truyền thống”.

Ở túp lều cheo leo trên đỉnh núi, chúng tôi được uống nước lấy từ những mạch nước ngầm tinh khiết trên đỉnh Alps và được chia nhóm để phân tích hoạt động của ba công ty lớn trên thế giới: Nestle, P&G và Sony. Bài giảng về kinh tế và môi trường sau đó của thầy xem ra dễ hiểu hơn lúc nào hết, ngay cả đối với những bạn sinh viên không học ngành kinh tế.

Một trong những bài học đáng nhớ nhất đối với chúng tôi là “Xã hội 2.000 Watt”, do hai giáo sư Viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT) giảng dạy. Ở thời điểm hiện tại, năng lượng tiêu thụ bình quân toàn cầu là 2.000 Watt mỗi đầu người, nhưng việc tiêu thụ này lại thay đổi từ mức chỉ 290 Watt ở Etiopia đến mức 10.000 Watt ở Mỹ. Vậy làm sao để tạo nên một xã hội 2.000 Watt trên khắp thế giới nhưng không phải từ bỏ những tiện nghi của lối sống phương Tây là một vấn đề khả thi về mặt kỹ thuật nhưng hết sức nan giải khi áp dụng.

Thầy cũng đưa ra phương pháp tính mức tiêu thụ năng lượng của mỗi người, được chia làm năm phần chính: dùng trong hộ gia đình, phương tiện vận chuyển, dinh dưỡng, tiêu thụ cá nhân, tiêu thụ công cộng. Tôi vốn tự cho mình ít tiêu thụ năng lượng nên tá hỏa khi tổng cộng mức tiêu thụ của tôi lên đến gần 10.000 Watt, nằm trong mức cao nhất thế giới, trong khi bình quân châu Âu chỉ gần 5.000. Thấy tôi ngồi thừ ra trước máy tính, Daniel - anh bạn người Áo, sinh viên ngành khoa học môi trường - cầm tờ giấy của tôi lên: “À, tại bạn đi máy bay nhiều quá thôi! Ôi trời, mỗi năm bay gần trăm tiếng đồng hồ, riêng khoản này đã chiếm gần 6.500 Watt rồi còn đâu”.

Trong khi cả lớp vẫn còn bần thần với kết quả tiêu thụ năng lượng của mình, cô Michelle lên giới thiệu về Tổ chức Khí hậu của tôi (My climate), được thành lập với nỗ lực ngăn ngừa thay đổi khí hậu - một trong những vấn đề nan giải nhất của thế giới. My climate giúp tiết kiệm năng lượng và giảm lượng CO2 gây nên hiệu ứng nhà kính bằng cách xây dựng hàng trăm thiết bị làm nóng nước từ năng lượng mặt trời.

Quĩ hỗ trợ dự án này được gây dựng từ những cá nhân, tổ chức và công ty tình nguyện nộp số tiền tương đương với mỗi quãng đường bay để bù đắp cho lượng CO2 thải ra. (Ví dụ, Liên minh Phát triển bền vững toàn cầu đã tình nguyện góp cho My climate 127 USD cho chuyến bay khứ hồi TP.HCM - Zurich của tôi).

Trong khuôn khổ chương trình, chúng tôi được mời xem bộ phim Hollywood Ngày mốt, nói về thảm họa tàn khốc do thiên nhiên gây ra. Hình ảnh những người dân Tokyo hoảng loạn chạy tránh và chết dưới những viên mưa đá to đùng, hay người dân New York bị đóng băng ngay lập tức với nỗi kinh hoàng vẫn còn trên mặt... làm tôi sợ cứng người. Nhưng có lẽ đắt nhất vẫn là chi tiết nhà khoa học trả lời điện thoại với khuôn mặt thất thần: “Tôi biết điều này sẽ xảy ra nhưng không ngờ nhanh đến vậy”.

Hôm sau, tại buổi picnic bên bờ sông Linthal, chúng tôi cùng ngồi bàn luận về bộ phim này. Thầy tôi nói: “Có ai ngờ năm 2003 băng lại tan trên đỉnh Alps của Thụy Sĩ với mức kỷ lục 150m do thay đổi khí hậu? Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tất cả mọi thứ đều có thể. Vậy nên trong tương lai các em phải là những người quyết định việc gì xảy ra và việc gì không được xảy ra”.

Nhưng có lẽ gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi vẫn là hình ảnh “ăn trái xanh” của thầy Ludwig trong một buổi học. “Ở một ngôi làng nọ trên nước Mozambique, tất cả cư dân đều được sở hữu bất cứ loại trái cây nào họ hái được. Ban đầu mọi việc đều suôn sẻ và tất cả đều cảm thấy hạnh phúc. Nhưng dần về sau, tất cả mọi người đều ăn trái còn xanh vì sợ đợi đến lúc chín người khác giành hái mất.

Cứ như vậy, trái cây họ hái và ăn ngày một non dần…”. Vài phút trước đó, chúng tôi còn chia làm sáu nhóm “ẩu đả” nhau không thương tiếc trong trò chơi “Cá và ngân hàng” do thầy Jens hướng dẫn, trong đó mỗi nhóm - tượng trưng cho một tập đoàn đánh cá - đều tìm cách mua thật nhiều thuyền và đánh bắt cả gần bờ lẫn thật xa bờ để thu được nhiều lợi nhuận.

Gần như không nhóm nào nghĩ đến nhóm khác, cũng như đến khả năng chịu đựng của đại dương. Nhưng càng ngày lượng cá đánh bắt được càng ít dần đi và gần như bằng 0. Kết luận câu chuyện và cuộc chơi, thầy nói: “Những nhà lãnh đạo tương lai, thông minh, đầy nhiệt tâm và có cái nhìn sâu rộng”.

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2004

Khoảng xanh Bangkok

Ảnh 1
TTCN - Chuyến đi Bangkok lần thứ tư, tôi không còn hào hứng xếp hàng mua vé vào chùa vàng, chùa bạc, cũng không chen lấn xuống thuyền đi trên sông Chao Phraya, hay tần ngần đứng trước khu Patpong nửa muốn vào nửa không dám.

Tôi cũng không nhăn nhó chê đường phố Bangkok tối tăm vì hệ thống skytrain chạy trên không trung, hay nạn kẹt xe kinh khủng giờ cao điểm. Đơn giản vì trong chuyến đi này tôi đã khám phá ra một nét đặc biệt mà không phải du khách người Việt nào cũng phát hiện được: giữa lòng thủ đô rộng lớn của Thái Lan cũng có những khoảng xanh riêng, lặng lẽ nép mình trong ồn ào, náo nhiệt đô thị.

Ảnh 2
Lumpini là công viên lâu đời và lớn nhất Bangkok, từng được website du lịch nổi tiếng Wguide.com gọi là ốc đảo xanh giữa rừng bêtông. Thật vậy, tọa lạc trên 58 hecta phủ đầy cây xanh, những cây đa già cao vút tỏa bóng mát rượi, những thảm cỏ xanh mượt và hồ nước trong, đây là nơi cư dân địa phương đến tập thể dục, chạy bộ, đạp xe vào sáng sớm, đánh cờ vào chiều tà, hoặc tổ chức những buổi picnic gia đình, thư giãn dưới tán cây, nghe chim hót và hít thở không khí trong lành.

Một góc hồ nước xanh với những cành cây gầy guộc và những tòa nhà cao tầng in bóng gợi nhớ đến hồ Gươm giữa lòng Hà Nội (ảnh 1), trong khi những con thuyền thong thả bơi dưới tán lá xanh rì làm người ta dễ liên tưởng đến hồ Xuân Hương, Đà Lạt những ngày đầu năm (ảnh 2). Lối vào công viên, hoa mọc đầy trên những ô vuông được cắt tỉa gọn ghẽ bên những chiếc ghế gỗ dài (ảnh 3). Công viên nằm gần Trường đại học Chulalongkorn nên cũng là địa điểm lý tưởng để sinh viên đến ôn bài mỗi mùa thi.

Ảnh 3
Không chỉ ở Lumpini hay những công viên khác trong thành phố, thật ngạc nhiên khi bắt gặp giữa tấp nập cuộc sống của thủ đô Bangkok đầy khói bụi những chiếc lá súng và búi cây không tên bập bềnh trên mặt nước trong veo. Nếu không có những kiến trúc hiện đại xung quanh, rất dễ lầm tưởng nơi đây là một miền quê Thái xa xôi, đìu hiu, nơi có những người dân địa phương da ngăm đen luôn cười tươi và vẫy chào mỗi khi bạn đạp xe ngang.

Ở Sukhumvit, khu phố sang trọng, hiện đại nhất Bangkok, những soi (đường) nhỏ có rất nhiều nhà hàng Thái nổi tiếng vì chất lượng món ăn và cung cách phục vụ. Chỉ hơn 10 phút

Ảnh 4
đi bộ từ soi Sukhumvit 21, không xa những khu shopping lớn Times Square và Robinson, bên cạnh hệ thống khách sạn bốn, năm sao dày đặc Mariot, Landmark, Sheraton Grande, Windsor Suites…, bạn sẽ như lạc vào một thế giới khác với những ngôi nhà nho nhỏ nép mình trong những khu vườn um tùm hoa lá. Có những nhà hàng với hai hàng cây mọc um tùm hai bên lối vào tạo cảm giác thanh thản như ta được mời ăn chiều với gia đình người bạn thân, không phải nhà hàng ở một thành phố xa lạ (ảnh 4).

Và tôi cũng có cảm giác như chia tay một người bạn thân khi lên máy bay rời Bangkok. Với tôi, Bangkok không chỉ có ồn ào, kẹt xe, ô nhiễm… mà còn những ngóc ngách xanh và bình yên, một chốn êm đềm.

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2003

Annabel Jackon: Khi tôi viết Café Việt Nam

Bìa cuốn sách Café Việt Nam
TTCN - Chị Anh đã yêu cầu tiếp tân khách sạn Anna Mandara (Nha Trang) gọi đánh thức tôi vì, như chị nói với tôi đêm trước, “nếu bạn muốn thấy những món ăn sáng VN được chuẩn bị như thế nào, bạn phải ra chợ lúc 6 giờ”.

Điểm đến đầu tiên của khu ăn uống ở chợ là quầy bún bò, một món ăn mà tôi được biết trước đây trong chuyến thăm Huế. Nhưng bây giờ tôi mới biết hột màu - những hột đỏ nho nhỏ từ một loại cây nào đó mà chúng tôi không biết tên tiếng Anh - được cho vào nồi sau khi xương bò đã được hầm ba tiếng đồng hồ trên bếp gas.

Người bán cũng nói thêm nồi xương được nấu bốn tiếng nữa trên bếp than và lá sả chỉ cho vào khi nước đang sôi. Tiếp đó là món bánh ram, nhưng tôi lập tức quyết định không cho vào sách vì quá phức tạp; vì vậy chúng tôi đến sạp bún riêu, một món ăn khêu gợi sự chú ý của tôi ngay lập tức. Tôi cũng thích thú xem hột màu được nêm vào nồi nước lèo và thêm hột màu vào list đi mua sắm ngay.

Nhưng món độc đáo nhất của buổi sáng là bánh căn (còn được gọi là bánh khọt). Không lâu sau tôi được Diệu Hồ (một Việt kiều sinh ra gần biên giới Campuchia hiện là đầu bếp khách sạn New World) cho biết bánh căn là món anh ưa thích nhất nhưng rất khó tìm ở TP.HCM.

Một đĩa mười chiếc bánh như vậy giá 1.000 đồng, nếu muốn thêm trứng vào bột thì thêm 1.000 đồng nữa. Tôi gọi cả hai cũng vậy, và rõ ràng cô bé thích vị chua chua của xoài xanh bằm ăn chung với nước mắm giống tôi. Nhưng món này, tôi nghĩ bụng, cũng không cho vào sách được. Có thể tìm ở đâu những cái khuôn xinh xắn bằng đất nung như vậy, ngoại trừ VN?

Aline Hồ bạn tôi, một trong những người sáng lập Anna Mandara, nhờ tôi mua về ít xôi, món ăn sáng từ nếp mà chúng tôi cùng khoái. Tôi mua hai phần, một phần nấu với đậu đen và một phần với đậu phộng nguyên hạt, được gói trong những gói bằng lá chuối mà cô bé 14 tuổi đưa cho tôi.

Trong lúc nhấm nháp tách expresso ở khách sạn, Aline đồng ý món xôi tôi mua rất ngon và chúng tôi bảo nhau tại sao bây giờ người ta lại chuyển sang bán xôi trong những hộp nhựa xấu xí; tại sao cũng như bánh khọt, món xôi không còn bán nhiều trên đường phố nữa.

Tôi ăn trưa trong một nhà hàng dọc bãi biển, rõ ràng tất cả những món ăn ở đây đều được chế biến từ mẻ lưới ban sáng. Tôi gọi cá ngừ nướng sả ớt, hành tươi và rau mùi thật ngon lành. Hình như có cả gừng nữa thì phải.

Cả buổi chiều tôi ở phòng viết lại những món ăn ban sáng đến tận năm giờ rưỡi, và tiếp tục làm “hành khách” của chị Anh. Món đầu tiên của bữa tối là nem nướng - thịt heo nướng xiên, sau đó là bánh canh tôi thấy lúc sáng. Chúng tôi cũng trò chuyện rất lâu với bà già làm mì Quảng, món mì vàng như cà ri ăn với nước lèo và nhiều nguyên liệu khác, gồm cả trứng cút.

Trở về khách sạn ba mươi phút để tiếp tục công việc viết lách, tôi tự thưởng mình một chai Muscadet ướp lạnh và một bữa ăn tối không quá hoàn hảo nhưng rất có ích về mặt thông tin thức ăn, bao gồm canh cá chua ngọt và gỏi bắp chuối. Cả hai món sẽ vào sách, tôi quyết định. Hoa chuối rất ngon: làm sao tôi có thể sống thiếu nó được?

Khi viết cuốn sách này, tôi nhìn lại sổ tay để tìm ra chính xác mình đã thử món gì vào ngày 2-5-1997, ngày đầu tiên tôi nghiên cứu viết Café Việt Nam. Trong những cuốn sổ ấy, mọi nguyên liệu của tất cả các món ăn tôi thấy hay nếm thử đều được chịu khó viết lại bằng con số xấp xỉ mà người bán hàng trên đường phố chỉ cho tôi: “một ít”, “không nhiều lắm”, hay “một vốc tay”. Rất có ích!

Những ngày cặm cụi viết công thức món ăn đường phố ấy - được tôi chú thích bên dưới những câu hỏi của chính mình “quá nhiều giá?”, “không đủ me”, hay “loại thịt heo nào?”- cũng là những ngày tôi nhận ra ẩm thực VN sẽ trú ngụ lại tâm hồn tôi như thể tôi đã được sinh ra cùng nó. Tôi hăm hở hi vọng không lâu sau đó tôi sẽ “biết” những món ăn ở đây như chính người bản xứ, và đặc biệt nước lèo của món phở bò tôi nấu sẽ có vị như quán phở ưa thích nhất của tôi ở TP.HCM.

Rất nhiều lần tôi phải tự hỏi chính mình: không kiếm được nấm rơm tươi ở Luân Đôn, vậy nấm đóng hộp được không? Nếu món gỏi gà với hành tây phải làm với da gà, vậy dùng thịt gà nạc có đúng điệu không? Một chén ăn cơm là định lượng bao nhiêu trên đơn vị ounce? Tôi thấy mình viết những thứ thật ngớ ngẩn trong sách, thay nguyên liệu lá chuối bằng giấy nhôm bạc để nướng thức ăn - tự an ủi giấy bạc là sự thay thế mang tính hiện đại. Hoặc viết “tùy chọn” sau chữ rau om, món rau mang tính quyết định trong món canh chua cá vì tôi không thể loại bỏ một trong những món canh truyền thống ngon nhất VN chỉ vì ngại người nước ngoài không kiếm ra rau om.

Âm thực VN gắn liền một cách duyên dáng và hài hòa với những món ăn dân dã vì chúng vẫn giữ nguyên nét giản dị, không cầu kỳ, đa số những món ăn này vẫn được thưởng thức trên đường phố hay trong những quán khá bình dân. Viết về ẩm thực VN, hay thậm chí chỉ đơn giản viết về cách chế biến món ăn VN, đối với tôi cuối cùng cũng là viết về văn hóa VN.

Tôi không phải là một du khách quá say mê với phong cảnh đẹp, nhưng cứ cho tôi cơ hội được mua rau ở một sạp có cô bán rau mặc áo chấm hoa, hay đến thăm nhà một người bạn để thay phiên nhau cuốn gỏi cuốn trong khi bố cô ngồi xem tivi, là tôi sẵn sàng lên chuyến bay sớm nhất sang VN ngay lập tức.
 ____________________

 Chuyên gia ẩm thực người Anh Annabel Jackson đã sống ở Hông Kông từ năm 1989, là phóng viên tờ South China Morning Post trước khi trở thành phóng viên tự do của nhiều tạp chí quốc tế và giám đốc PR của khách sạn Mandarin Oriental Hong Kong.

Đã từng đến VN nhiều lần, trong số những cuốn sách về ẩm thực của Annabel Jackson có đến ba cuốn viết về VN: Việt Nam trên một chiếc đĩa (NXB Roundhouse, 1996), Món ăn Việt Nam (NXB Periplus, 1997) và gần đây nhất là Café Việt Nam (NXB Conran Octopus, 2000).

Bài viết trên trích từ một trang web nổi tiếng về du lịch châu Á, kể về một trong những chuyến đi tìm hiểu món ăn VN để nghiên cứu viết Café Việt Nam (từ café để chỉ những quán ăn và món ăn).

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN lược dịch