Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008

Không có lối sống “GATO”!

TTO - Ban đầu, nghe nói người này người kia “GATO”, tôi tưởng họ đề cập tới một loại bánh, sau mới biết nó là viết tắt của “Ghen Ăn Tức Ở”.

Có thể nói, trong xã hội đang tồn tại rất nhiều người như thế này. Bất cứ chuyện gì hay bất cứ người nào, dù tốt đẹp mấy, qua con mắt của những người có lối sống GATO thế nào cũng mắc sai trái. Điểm chung của họ là luôn hằn học, nhìn đâu đều thấy toàn tiêu cực và phủ nhận những mặt tích cực cũng như thành công của người khác.

Tôi tin các bạn độc giả của mình không có lối sống như vậy và hi vọng các bạn đừng để những ai có lối sống đó ảnh hưởng đến cách nhìn của mình.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2008

“Bước qua lằn ranh”

TTO - Trong một khóa huấn luyện của công ty, người huấn luyện kể về Tiger Woods, tay đánh gôn lừng danh thế giới.

Ông nói: “Tiger Woods trả cho người huấn luyện của mình một triệu đô mỗi năm, không phải để huấn luyện kỹ năng chơi gôn, vì cái này anh có thừa. Cũng không phải huấn luyện ước mơ chiến thắng, vì khả năng này anh cũng không thiếu. Điều ông huấn luyện cho Tiger là biết “bước qua lằn ranh”.

Nếu xem Tiger Woods thi đấu trên tivi, sẽ thấy mỗi lần đánh trật (trái banh không vào đúng lỗ), anh lại vung tay lên, nói “Damn!” với thái độ rất bực dọc, đầu cúi gằm xuống. Nhưng rất nhanh, anh bước đi mấy bước và trở thành một người khác hẳn. Vẻ bực dọc chỉ cách đó tích tắc đã biến mất, đầu anh ngẩng cao, trên gương mặt chỉ thấy nét tự tin và quyết đoán. Có thể nói Tiger Woods đã trả 1 triệu đô mỗi năm để học cách bước qua một lằn ranh vô hình, quên đi thất bại trước đó và biết tập trung vào việc sắp sửa diễn ra.

Hôm nay bạn bị sếp la, khách hàng phàn nàn, vợ bỏ, bạn bè chơi xấu (thêm phần “bị báo lá cải bêu riếu” - nếu bạn là người nổi tiếng) làm tâm trạng bạn rối bời, thấy cuộc sống sao mà khốn khổ khốn nạn! Lúc đó hãy tập “bước qua lằn ranh” như Tiger Woods, bỏ lại những phiền hà đằng sau để tập trung vào việc phía trước.

Tiger Woods trả 1 triệu đô mỗi năm để học bí quyết này, công ty tôi trả mấy chục ngàn bảng Anh để người huấn luyện đến dạy tôi bắt chước Tiger Woods. Bạn chỉ tốn mấy chục ngàn đồng để mua cuốn sách cũng học được “bí kíp”, vậy phải áp dụng liền nghe!

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

Đạp xe đạp

TTO - Tôi là một người ủng hộ rất nhiệt tình chủ trương đi xe đạp - phương tiện giao thông thân thiện với môi trường nhất (có lẽ chỉ thua đi bộ), không tốn lít xăng nào, không gây ồn ào khói bụi.

Ở Anh, đồng nghiệp thấy tôi đi xe đạp lấy làm ghen tị lắm, vì họ ý thức được đi xe đạp tốt cho sức khỏe và không gây ô nhiễm. Họ bảo ai đi xe đạp nhìn cũng rất “quý phái” (noble). Ở Việt Nam, đồng nghiệp thấy tôi đi xe đạp thì kêu “Làm sao ra nông nỗi này?”.

Nếu bạn có vài trăm ngàn đồng, theo tôi, bạn nên mua một chiếc xe đạp ngay. Chỉ cần đạp một tháng là đảm bảo lại vốn tiền xăng, giảm cân, tốt cho tim mạch, tốt cho thành phố, nói tóm lại chỉ có tốt mà thôi.

À, sẵn đây kể bạn nghe về chiến dịch “World Naked Bike Ride” (tạm dịch: Diễu hành xe đạp khỏa thân toàn thế giới), được tổ chức hàng năm và có hơn 70 thành phố trên 20 quốc gia như Canada, Hi Lạp, Nhật, Tây Ban Nha, Anh, Nga… tham dự, trong đó người tham gia diễu hành bằng xe đạp có thể mặc quần áo hoặc hoàn toàn khỏa thân, như một dạng biểu tình chống khói bụi ô nhiễm và việc lệ thuộc vào dầu lửa.

Dù thích ý tưởng này cách mấy, ở Việt Nam hiện giờ tôi khuyên bạn nên mặc quần áo khi đạp xe đạp ngoài đường, nếu không bị công an bắt ráng chịu!

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2008

Lời giới thiệu - Sống xanh

TTO - Đến hôm nay, Ngô Thị Giáng Uyên đã là một tên tuổi quen thuộc với giới trẻ Việt Nam. Sau tập du ký châu Âu mang phong vị lãng mạn Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, khá đông độc giả hay nhắc nhở Uyên phải viết thêm điều gì mới chứ!

Thật sự, ý tưởng về một “môi trường xanh - thái độ sống thân thiện giữa con người với nhau” là đề tài Uyên hằng ấp ủ. Trong mail gửi cho nhóm thực hiện tập sách, Uyên luôn đau đáu một nỗi niềm trăn trở lớn: môi trường sống của Việt Nam đang xuống cấp ở mức đáng báo động. Chỉ vì lợi ích trước mắt, con người đã hủy hoại ghê gớm các tài sản vô giá do thiên nhiên ban tặng. Hạn hán, bão lũ… ngày càng xuất hiện dồn dập theo cấp số nhân, nào phải ngẫu nhiên! Bởi lẽ, rừng đầu nguồn đã bị đốn chặt không thương tiếc, đất đai xói mòn nghiêm trọng, còn đâu lá chắn phòng vệ hữu hiệu… Chỉ vì lợi nhuận béo bở, không ít người sẵn sàng làm hàng gian, hàng dỏm; sẵn sàng “đạp” lên nhau mà sống…

Lướt qua dòng đầu tiên của mỗi mẩu chuyện nho nhỏ, cảm nhận bao trùm là sự nhẹ nhõm và thú vị - những gì Uyên viết chẳng khác nào lời chia sẻ giữa những người bạn tâm giao. Này nhé, ở phần đầu Uyên đã mời gọi mọi người “Làm đám cưới nhỏ, thân mật” thôi, “thỉnh thoảng nên ăn chay”, “làm một món quà bằng tay” tặng bạn bè, lâu lâu chịu khó “đi thang bộ” - “đi xe đạp”, rồi thỉnh thoảng nhớ “đọc truyện cổ tích” hoặc “tìm đọc lại những kiệt tác văn học”… Ở đoạn khác, Uyên nhẹ nhàng nhắc nhở bạn “nói không với bọc nilông”, “hạn chế tối đa trò chơi vi tính ở trẻ con”, “đừng đua theo mốt”, “không để tivi ở chế độ standby”, “không ăn động thực vật quí hiếm”, “tận dụng nước mưa”… Lúc khác, Uyên lại động viên “không học đại học cũng không sao hết”, dặn dò bạn đừng quên “mua hàng ở những cửa hàng vì cộng đồng” và thường xuyên “tạo điều kiện cho người khuyết tật”…

Như vậy, không khó lắm để nhận ra thông điệp Uyên muốn gửi gắm đến mọi người. Đấy là lối sống giản dị, chừng mực, hài hòa với thiên nhiên, trân trọng những giá trị tinh thần, bớt lệ thuộc vào vật chất, hư danh; tẩy chay kiểu sống chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ.

Những lời chia sẻ của Uyên không mới mẻ, cao xa gì, nhưng ít ra sau khi chia tay với dòng chữ cuối cùng, chắc chắn lòng bạn sẽ vui hơn, trí sẽ sáng hơn và trên hết là bạn có dịp nhìn lại chính mình, thấu đáo được hành động dù nhỏ nhất của từng cá nhân đều ảnh hưởng đến tương lai “ngôi nhà chung - Trái đất của chúng ta”!

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

Seam Reap thoáng qua

Cuối năm, khi mọi người bù đầu với những kế hoạch công việc làm ăn, mua sắm, gia đình, cưới hỏi, tự nhiên tôi muốn đi đâu đó xa Sài Gòn, không biết đi đâu nhưng cứ phải đi.

Lang thang trên Internet một lúc, vào đến trang Elephantguide, tôi đọc say mê rồi không cần suy nghĩ mà quyết định luôn: Bay nhảy khắp nơi rồi mà bạn láng giềng chưa đi thăm thì đáng trách quá, đi du lịch Đông Dương thôi. Thế là ngay sáng hôm sau, cùng với một người bạn tên Quỳnh, chúng tôi bắt xe buýt đi Phnom Penh.

Từ xe đò đến xe tuk tuk

Chuyến xe đò từ Phnom Penh đến Seam Reap để thăm Angkor “thuở hồng hoang đã thấy, đã xanh ngời liêu trai” không khác mấy so với những chuyến xe đò liên tỉnh miền Tây ở Việt Nam nhiều năm trước, do chúng tôi chọn đi xe với dân địa phương chứ không theo tour của mấy văn phòng du lịch. Xe địa phương nên cũ mèm, trên nóc xe có cả vịt kêu quàng quạc còn trong xe có tivi mở cải lương Campuchia (cải lương của diễn viên Campuchia thứ thiệt chứ không phải cải lương Việt Nam lồng tiếng Campuchia).

Những ngôi nhà kiểu Khmer mái nhọn và lan can gỗ lẫn trong hoa giấy và dâm bụt đỏ
Trời tháng 12 nóng bức, những con đường đất đỏ mùa khô bụi cuốn lên mù mịt. Xe dừng lại nghỉ chân ở một nơi bán đầy bọ cạp, rết, dế nhủi chiên giòn... Mấy đứa trẻ da sạm nắng đang bưng những rổ trái cây đi bán cho khách. Để ý một bé gái mắt to và nâu, cầm những hộp mít đã bóc ra vàng ngậy, tôi mua một hộp mà còn nhớ cặp mắt của nó mở to như muốn hỏi khi nào mình mới được đi chơi như những du khách mua mít qua đường.

Xe đến Seam Reap trời đã sập tối. Bến xe vắng vẻ, buồn hiu hắt, lại cách trung tâm rất xa. Chúng tôi lên đại một chiếc tuk tuk vì anh chàng chạy xe khẳng định mình biết rành Seam Reap như trong lòng bàn tay và biết rõ cả đường đến khách sạn chúng tôi đã đặt trước.

Ngôi biệt thự sơn trắng xóa, cửa xanh da trời đậm, nổi bật trên nền sọc đỏ cam của mái che nhà hàng kế bên
Một người đàn ông trung niên người Ireland đi cùng chuyến xe buýt với chúng tôi cũng đang ngồi lên yên sau một chiếc xe máy, vẫy tay: “Các cô, tôi đi đây. Hẹn gặp lại!” (nói giỡn chơi vậy mà thành thiệt, vì hai ngày sau chúng tôi tình cờ gặp nhau ở Angkor). Đường miền quê gồ ghề, còn chiếc xe chạy hết tốc độ, rung xồng xộc, gió thổi vù vù quanh tai, tôi hét át tiếng gió và máy xe “Chạy chậm lại giùm!”, nhưng anh lái xe không nghe thấy hay giả điếc mà mặt lạnh như tiền cứ chạy rầm rầm.

Trước khi tôi đi Campuchia, ai cũng khuyên đặt tour cho chắc, đừng tự đi một mình vì nguy hiểm và còn hù “dân ở đó ghét người Việt lắm”, tôi bỏ ngoài tai, bởi “Người ta đi hà rầm có sao đâu. Ta là dân du lịch chuyên nghiệp mà, khéo lo”. Nhưng lúc đó tôi sợ thật sự. Đường vắng tanh vắng ngắt không bóng người hay bóng điện, cây cối vẽ lên nền trời đêm những nét dọa dẫm. Nhìn quanh, tự nhiên tôi rợn xương sống. Có khi nào gã lái tuk tuk chở mình vào chỗ buôn người hay nhốt lại đòi tiền chuộc?

Seam Reap: Chợ, món ăn địa phương và phố xá

Chỉ khi đến được khách sạn nhận phòng rồi, tôi mới thở phào nhẹ nhõm rủ Quỳnh ra ngoài phố ăn tối. Không tới khu phố Tây ba lô hội hè, chúng tôi tới một chợ nhỏ đầu đường, thắp đèn hột vịt lù mù. Chợ bàn ghế thấp lè tè trải khăn nhựa in hoa sặc sỡ, bán xôi đậu đen, gà luộc, trứng gà nướng, phá lấu, cơm ống tre, chè, nước mía… Có một xe bán gân, sách bò chấm mắm gừng với nhiều rau ăn kèm thật hấp dẫn.

Cô gái bán hàng rất dễ thương da ngăm và gương mặt đặc trưng của người Khmer lấy chuối chát, khế chua, dưa leo, cà pháo, xắt bằng tay dẻo như múa, rồi sắp vào đĩa gân sách bò kèm thêm ít rau xanh làm thành hai đĩa. Chúng tôi ăn ngon lành vì đói. Mắm gừng có ớt hiểm cay xé lưỡi, gân, sách bò miếng mềm, miếng giòn sần sật mặn mà, cà pháo giòn tan, dưa leo mát rượi, quyện với chuối và khế thật ngon lành.

Seam Reap hoàn toàn có thể trở thành một điểm du lịch hấp dẫn ngay cả khi không có Angkor. Khu phố gần chợ Psar Chaa (chợ lớn ở trung tâm) có nhiều ngôi biệt thự kiểu Pháp xưa và những dãy nhà kiến trúc kết hợp Pháp - Khmer lạ mắt xinh đẹp. Nhà cửa ở đây được sơn nhiều màu sặc sỡ nhưng không quá lòe loẹt, hài hòa với khung cảnh xung quanh.

Nhà hàng Terrasse des Élephants với màn cửa mỏng trắng muốt và những chiếc quạt trần sẫm màu kiểu thuộc địa, lười biếng quay
Từ nơi chúng tôi ở bước ra khu phố chính, ngay ngã tư là ngôi biệt thự màu vàng bơ với ban công và mái vòm trắng nép mình dưới tán dừa, cọ xanh um. Đây là quán cà phê và nhà hàng Terrasse des Élephants, với màn cửa mỏng trắng muốt và những chiếc quạt trần sẫm màu kiểu thuộc địa đang lười biếng quay.

Băng qua Terrasse des Élephants khoảng vài chục mét là một dãy những nhà hàng muôn màu, kê bàn ghế mây ra ngoài hè phố, bên những chậu trồng tre cảnh xào xạc. Nhà kiểu Khmer ở Seam Reap rất chuộng những gam màu nóng như đỏ, vàng, cam với nhiều sắc độ, làm nổi bật những chiếc đèn khổng lồ hình ống bằng vải trắng treo trên tường.

Nhà kiểu Khmer ở Seam Reap rất chuộng những gam màu nóng: đỏ, vàng, cam…
Vì nắng nóng quanh năm nên những ngôi nhà ở đây đều che mái vòm phía trước có màu hòa hợp với nước sơn tường và bàn ghế kê xung quanh. Chúng tôi để ý tới một ngôi nhà sơn vàng cửa chớp và thông gió xanh lá cây đậm, mái vòm che cũng cùng màu vàng tỏa rợp khoảng sân xanh um cây lá. Nếu không có những chiếc quạt máy treo trên tường làm ta nghĩ ngay đến một nước nhiệt đới, rất có thể ai đó nhầm đây là một nhà hàng trên phố xá Paris. Cả ngôi biệt thự sơn trắng xóa cửa xanh da trời đậm nổi bật trên nền sọc đỏ cam của mái che nhà hàng cạnh đó cũng vậy.

Nếu không có những chiếc quạt máy treo trên tường, rất có thể nhầm ngôi nhà sơn vàng cửa chớp và thông gió xanh lá cây đậm này là một nhà hàng trên phố xá Paris
Sau một ngày thăm Angkor mỏi rời chân, chúng tôi ăn tối trên căn gác xép của một quán ăn Khmer có cái tên khá ngộ Le Tigre de Papier (Cọp giấy). Nơi chúng tôi ngồi trông sang nhà hàng Temple Club một điển hình của kiến trúc Pháp kết hợp Campuchia với những mái hình tam giác, tay vịn ban công thấp và thuôn thuôn. Những bóng đèn bọc vải trắng treo đầy trên trần thấp tỏa ánh vàng và ban nhạc người địa phương đang chơi những bài hát truyền thống vui nhộn phục vụ thực khách làm không khí vui vẻ hẳn lên.

Sau bữa ăn tối, chúng tôi sang quán bar cách đó vài căn vì bị ấn tượng bởi chùm đèn treo xinh xắn. Chùm đèn lớn tỏa ánh vàng ấm áp xuống quầy bar làm tôi mơ màng nghĩ đến những kỳ nghỉ xa xôi tận xứ Scandinavia vì trông rất giống kiểu trang trí của Phần Lan hay Thụy Điển.

Cái tên Seam Reap theo tiếng địa phương có nghĩa là chiến thắng quân Xiêm nhưng đã có thời gian, từ năm 1794 đến năm 1907, cả Seam Reap và hệ thống đền đài Angkor bị Thái Lan chinh phục và nắm giữ. Khi những người Pháp đầu tiên khám phá ra Angkor hoành tráng, Seam Reap chỉ là một ngôi làng nhỏ “ngái ngủ” không hơn không kém và chỉ thật sự mở mắt (và mở cửa) đón khách du lịch quốc tế từ khi Pháp giành quyền nắm giữ Angkor từ tay Thái Lan vào những năm đầu thế kỷ XX.

Sáng hôm sau, tôi dành thời gian quay trở lại khu phố gần chợ Psar Chaa, ngắm dãy nhà vuông vắn sơn màu pastel (pha sơn trắng với các loại sơn khác nhau cho dịu mắt) như trong những làng chài Địa Trung Hải. Đáng tiếc là những ngôi nhà tầng trệt để làm cửa hiệu, tầng trên để ở ấy hơi lộn xộn, bảng quảng cáo treo cả bên trên lẫn bên dưới.

Dãy nhà vuông vắn sơn màu pastel như trong những làng chài Địa Trung Hải
Thời gian còn lại trong ngày chúng tôi tản bộ trên những con đường dọc theo hồ Tonle Sap, ngắm những ngôi nhà kiểu Khmer mái nhọn và lan can gỗ lẫn trong hoa giấy và dâm bụt đỏ. Đi một đoạn, chúng tôi bắt gặp FCC (Foreign Correspondents’ Club), cụm khách sạn - nhà hàng - quán bar sang trọng và tinh tế, trước là dinh của đại sứ Pháp thời thuộc địa, sơn trắng nổi bật giữa cây cối xào xạc um tùm.

FCC, cụm khách sạn-nhà hàng-quán bar sang trọng và tinh tế, sơn trắng nổi bật giữa cây cối xào xạc um tùm
Đối diện hồ là một chỗ ngồi tĩnh lặng với ghế mây đen và cụm chuối cảnh xanh mướt, hoa nắng vàng lọc qua những tàn lá cây to trên đầu rớt lốm đốm xuống thềm.

Chỗ ngồi tĩnh lặng ở FCC với ghế mây đen và cụm chuối cảnh xanh mướt, hoa nắng vàng lọc qua những tàn lá cây to trên đầu rớt lốm đốm xuống thềm
Ai cũng nói nếu Seam Reap không có Angkor Wat, Angkor Thom sẽ không có gì hấp dẫn và chẳng có lý do gì để ghé thăm. Chúng tôi đến Campuchia với mục đích chính để đi thăm Angkor, vì vậy thật thú vị khi khám phá ra xứ sở nhỏ bé này có nhiều điều cuốn hút khác nữa.

Nếu lỡ sau này Angkor có biến mất khỏi Seam Reap, tôi sẽ vẫn trở lại thăm nước láng giềng này (có khi lúc đó tôi sẽ là triệu phú như lời ông thầy bói Campuchia đã nói như đinh đóng cột với tôi; ông ngồi giữa khu đền cổ đá rêu phong mờ mờ tối khu Bayon, lại có bóng nắng hắt vô nhìn khá “thiêng liêng” nên hy vọng… trúng). Lúc đó, chắc chỉ còn mỗi mình tôi là du khách vì ai cũng nghĩ “Seam Reap không có Angkor, có gì hay đâu?”.

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2008

Hãy cùng sống “xanh”

TT - Sống xanh (Tủ sách Tuổi Trẻ và NXB Trẻ) không bay bổng, lãng mạn, mượt mà và giàu màu sắc như Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, nhưng vẫn rất đậm một phong cách sẽ khiến người đọc nhận ra Ngô Thị Giáng Uyên: chi chút, dí dỏm, sẵn lòng chia sẻ những kinh nghiệm, háo hức với các sắc thái văn hóa, ngập lòng một tình yêu thiên nhiên và đau đáu những biện pháp bảo vệ môi trường.


Nhẹ nhàng, tự nhiên như đang tiếp tục một cuộc nói chuyện với bạn bè, Uyên nhắc “tivi ở chế độ stand-by tốn 80% điện so với tivi đang mở đó”, “tắt vòi nước khi đánh răng sẽ tiết kiệm được 9 lít nước trong một phút”, “in giấy hai mặt, bạn sẽ giúp một cái cây không bị chặt”, “để máy giặt - sấy ở 30oC, bạn sẽ đốt được một lượng CO2 đáng kể”… Và tha thiết hơn: “Hãy nhớ những gì bạn tiết kiệm là cho universe, cho cả vũ trụ, thế giới này”.

Và không chỉ chăm chăm đến môi trường, Uyên còn dùng tất cả những kinh nghiệm mình đã tích lũy được để chỉ cho người đọc những cơ hội tận hưởng cuộc sống dễ bị bỏ qua: những khoảnh khắc tuyệt vời được đắm mình trong sắc trời, hương cỏ thay vì chăm chắm nhìn qua ống kính máy ảnh trên đường du lịch, một món quà nhỏ bất ngờ không chờ một dịp lễ nào, một vài giờ thảnh thơi thỉnh thoảng tự thưởng cho mình, không làm gì để tái tạo khả năng nhận biết hạnh phúc…

Lướt qua những câu chuyện nhỏ dễ nhớ, những hình ảnh hài hước trong Sống xanh sẽ thấy đời xanh thêm một chút. Và sẽ còn xanh thêm nữa khi bạn mang những nhắn gửi của Giáng Uyên vào cuộc sống của mình.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2007

Nhà mình ở Southampton

TTO - Thấy tôi đem khoe những bài báo về nước Anh của mình, cô bạn cùng nhà Janette hỏi chừng nào mới có bài về Southampton đây. Đến lúc đó tôi mới nhận ra chưa bao giờ có ý định sẽ viết bài về thành phố cảng miền Nam tươi đẹp này, có lẽ vì tôi chỉ viết những cảm xúc về những vùng đất đã đi qua, còn nơi mình ở lại lãng quên không nghĩ đến.

Tôi chọn Đại học Southampton một phần nhờ Paul, anh bạn người Anh làm việc ở Sài Gòn. Học bổng Chevening của tôi cho phép được học ở bất cứ trường đại học nào ở Vương quốc Anh miễn trường đó nhận tôi vào, nên suốt mấy tháng ròng rã tôi hí hoáy tải thông tin từ Internet về, nhận brochure của các trường, rồi vẽ biểu đồ so sánh.

Ở Việt Nam mười người như một ai cũng bảo tôi đi học ở London cho “sang”, chỉ mỗi mình Paul cương quyết lắc đầu: “Nếu muốn học cùng trường với toàn sinh viên quốc tế, nhất là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… thì đi London. Còn nếu muốn học trong một môi trường nhiều sinh viên bản xứ, Uyên phải đi thành phố khác. Người Anh, ngay cả dân London bản địa rất ít ai học ở London vì chi phí sinh hoạt đắt đỏ, họ chỉ học chỗ khác rồi quay về London làm việc thôi”. Cuối cùng, sau một tháng cân nhắc giữa những lựa chọn khác nhau vì tôi được khá nhiều trường đồng ý nhận vào, cả hai chúng tôi hào hứng quyết định: “Southampton it is!”

Cuối tháng 9 khóa học MBA mới bắt đầu nhưng tôi phải đến sớm tìm chỗ ở, sau đó tranh thủ đi du lịch một số nơi ở Anh và về lại để ổn định cuộc sống trước khi nhập học. Tôi đến Southampton một mình vào một buổi trưa đầu thu đầy nắng, sau hai ngày lang thang đã tìm được một căn hộ nhỏ bốn phòng ngủ rất tốt đối diện công viên, giá cả vừa phải, chung với ba bạn mới Paddy người Ailen, Janette và Alastair người Anh.

Nếu ở Sài Gòn bạn ở trong một ngôi nhà như nhà tôi ở quận Tân Phú, đối diện tiệm lẩu dê, bên phải quán cà phê, bên trái tiệm bida, xéo góc chỗ chơi thú nhún của con nít, thỉnh thoảng lại có một xe bán keo dính chuột của trung tâm ứng dụng công nghệ hóa màu đi ngang qua rao ra rả, bạn mới biết tôi quý không gian yên tĩnh đến mức nào. Công viên đối diện nhà chúng tôi xanh mướt cỏ và có rất nhiều cây lớn tỏa bóng xuống những băng ghế gỗ sần sùi. Đây là nơi nhận thấy bốn mùa đi qua rõ rệt nhất. Lúc chúng tôi mới dọn vào lá trên cây mới bắt đầu ngả vàng lốm đốm, nhưng chỉ tháng sau mùa thu đã dát vàng những vòm cây, lá thu cũng rụng trên mỗi bước chân qua, tôi thích bước vào hất lá khô dưới đất nghe xao xác. Có loại cây lá nhỏ và tròn mỏng mảnh, khi thu về lá vàng mướt như hoa trên cành và rắc đầy lối đi. Cảnh vật giống hệt trong bức tranh “Mùa thu vàng”, với những hàng cây lá vàng ươm như vừa được phết một lớp sơn mới, nhất là khi chúng tôi “bỏ phố về rừng” đi lang thang vùng New Forest cách nhà vài dặm. Mùa đông, mới ba giờ chiều trời đã tối mịt, cây trụi lá vươn những cành khẳng khiu lên nền trời xám nặng trĩu đặc trưng mùa đông nước Anh. Buổi sáng thức dậy, dù trong nhà có máy sưởi vẫn thấy sương giá phủ trắng mờ ô cửa kính, con đường chúng tôi đi học sương muối đọng đầy trên cỏ như ngăn đá tủ lạnh bị đông tuyết. May mà có những cây thường xanh (evergreen), loài cây luôn xanh ngắt suốt bốn mùa như cây holy lá xanh răng cưa quả tròn đỏ thắm đến dịp Noel lại được làm thành những vòng hoa trang trí trước cửa nhà, nếu không có lẽ không gian sẽ ảm đạm biết bao! Năm tôi ở, Southampton có tuyết muộn, đến cuối tháng ba trời mới đổ tuyết khắp nơi, tôi vẫn vừa nghe headphone vừa đi bộ một mình qua những con đường tuyết lạo xạo dưới chân, áo choàng rộng và dày, mang găng dày cộm, mũ trùm kín tai lẻ loi qua những con phố buổi tối vắng người, có hôm radio nói về vụ án mới nhất với một kẻ tâm thần bức bối vì mùa đông dài nặng trĩu đã nổi cơn điên giết một cô gái không quen biết cũng đi bộ một mình từ trường về nhà, tôi nghe mà sợ rúm ró nhưng biết làm sao được. Còn mùa xuân, tôi yêu nhất mùa xuân châu Âu, khi những búp non bắt đầu nhú trên cành và tất cả những loài hoa ngủ yên qua những ngày dài lạnh lẽo bắt đầu nở khắp lối đi, buổi sáng tôi mở cửa lòng phơi phới, hát nghêu ngao bài “Hoa trên cửa sổ” của Travis: “Look at you now, flowers in the window it’s such a lovely day, and I’m glad you feel the same”. Đến nước Anh tôi mới phân biệt được sự khác nhau giữa blossom - hoa nhỏ li ti nở bung trắng xóa hay hồng phấn khắp vòm cây lớn, những hoa mơ, hoa mận, hoa táo rồi sẽ đậu trái vào mùa sau - với flowers - hoa mọc trên cây nhỏ hoặc cành mảnh khảnh, nở rồi tàn phai. Mùa hè, 11g khuya mặt trời mới lặn, loáng đã hết đêm, một màu xanh mát mắt trải khắp nơi. Cây táo nhà gần trường tôi học, những hoa táo trắng mùa xuân giờ thành trái đỏ ối khắp cành và rụng lăn lóc cả trên đường đi, táo chín rụng vỡ ra tỏa mùi hương ngọt mát dễ chịu.

Có lẽ tôi nên nói đôi điều về những người bạn tôi ở chung ngôi nhà đường St. James đối diện công viên nhỏ ấy. Cô gái Janette bằng tuổi tôi, sống rất chỉn chu ngăn nắp, mọi thứ đều phải sắp đặt theo một trật tự cố định và sạch như li như lau, trong khi hai anh chàng Patrick và Alastair (tên thường gọi là Paddy và Aly) lớn hơn chúng tôi hai tuổi thì luộm thuộm đúng kiểu con trai. Tôi không được như Janette nhưng cũng không đến nỗi như hai anh kia nên thường đứng giữa để can những vụ nhăn nhó vì các khu chung như nhà bếp, phòng khách, nhà tắm… Nhưng chúng tôi rất thân nhau, nhất là những lúc cùng mua đồ về nướng barbeque ở khoảng sân sau, ra cảng hít thở gió biển lồng lộng, ngắm những con tàu neo đậu (Southampton cũng là nơi con tàu Titanic bạc mệnh đã nhổ neo đi New York), hay kéo nhau ra quán bia coi đá banh, có lẽ bạn không tin nổi khi biết được ở Anh không truyền hình trực tiếp giải bóng đá ngoại hạng Anh như ở Việt Nam, chỉ có truyền hình cáp mới xem được. Sẵn nói chuyện TV, chúng tôi có một câu chuyện rất vui về TV license, chả là ở quốc gia có tên gọi “nước Anh chém đẹp” (rip-off Britain) này, muốn xem TV bạn phải mua giấy phép 131 bảng, khoảng gần bốn triệu đồng, một số tiền khá lớn đối với sinh viên nên sau một hồi bàn bạc chúng tôi quyết định sẽ… xem chui, không đóng phí, cuối cùng mọi người đề nghị nếu có ai dáng vẻ “khả nghi” bấm chuông gọi cửa, tôi sẽ được phân công ra gặp và… giả bộ không biết tiếng Anh. Cả ba còn luyện tôi cách nói lắp bắp cho dễ tin nhất. Không may cho chúng tôi, được hơn một tháng có người đến - chỉ mỗi mình Paddy ở nhà, bộ dạng của anh chàng này rặt Ailen như cái tên Paddy của anh nên không thể giả đò không biết tiếng Anh được. Cũng may, ông kia thông cảm sinh viên (có lẽ những trường hợp này ông gặp hoài) nên chỉ bắt đóng đúng số tiền giấy phép 131 bảng chứ không phạt, nếu không cả bốn đứa có nước nhịn đói uống nước lã cầm hơi suốt một tuần.

Chủ nhà của chúng tôi cũng người Ailen, một bác sĩ đứng tuổi làm việc ở Bệnh viện Southampton. Nhưng củng giống như hầu hết các mối quan hệ sinh viên - chủ nhà khác, chúng tôi không khoái ông lắm. Tuy không ở chung nhà nhưng thỉnh thoảng ông lại đảo về ngó nghiêng, chê chúng tôi ở dơ để lá rụng đầy sân không quét, hay cằn nhằn tại sao chén chưa rửa để trong bồn, tại sao sách để lộn xộn đầy phòng khách. Aly và Paddy rất hay nhại ông cách nói lặp đi lặp lại mãi cùng một ý như thể người nghe không hiểu gì (tất nhiên không phải nhại trước mặt ông). Nhưng dù sao chúng tôi đều biết ơn ông đã cho chỗ ở tốt và cho chúng tôi gặp gỡ nhau.

Ở nhà, Janette thân với Paddy, còn tôi hay chơi chung với Aly, cũng là bạn thân nhất của tôi ở Anh trong suốt thời gian theo học. Lúc mới gặp, anh đòi nghe tôi hát tiếng Việt, ngay lập tức tôi ngửa cổ hát rất “hoành tráng” “Anh yêu em anh yêu em như rừng yêu thú dữ…” làm anh chàng há hốc miệng đứng nhìn, mãi sau này mới nói lúc đó rất bất ngờ vì cứ tưởng con gái Việt Nam ai cũng hiền lành nhút nhát. Ở chung nhà, anh hứa sẽ biến giọng tôi thành giọng một cô gái miền Nam nước Anh chính cống và bây giờ tôi được nhiều người khen nói giọng Anh kiểu British English cũng nhờ Aly. Khi tôi về lại Việt Nam, anh chàng nổi hứng tự mua sách về học tiếng Việt, mỗi lần đọc mail anh tiếng Anh xen tiếng Việt ngây ngô tôi lại cười lăn cười bò. Chẳng hạn “at the moment in the UK it’s the mùa mưa bão. Tôi có thể mua cái ô ở đâu?”, hay “Next February when I’m in Vietnam, I’ll have a xoa bóp everyday”. Ở Anh có chức danh Lord rất cao, trên cả chức Sir, những ai có được địa vị do nữ hoàng phong tặng này đều không gọi bằng tên thông thường mà gắn với một địa danh người đó sinh ra hoặc sống phần lớn thời gian, chẳng hạn Lord Lavene of Portsoken, hay Lord Griffiths of Fforestfach. Còn Aly tự xưng mình là… Lord Alastair of Cao Bằng, sau này hỏi ra mới biết anh chàng giở bản đồ Việt Nam ra thấy tên Cao Bằng cũng hay hay nên chọn luôn. Còn mỗi lần tôi nổi điên với anh (khá thường xuyên, vì như tôi đã nói anh chàng rất luộm thuộm), anh lại giả lả nói tiếng Việt “em đẹp lắm” làm tôi phì cười, muốn giận cũng không được.

Tôi quý Aly nhất kể từ khi tôi bị quai bị vào kỳ nghỉ phục sinh tháng tư (cả đời tôi chưa thấy ai hăm mấy tuổi còn bị bệnh này, nhưng tôi bị thật). Đáng lẽ hôm đó tôi đi Bỉ và Hà Lan với Thiêm nhưng người mệt mỏi không nhấc chân nổi, tội nghiệp Thiêm phải lủi thủi đi xe buýt mười tiếng đồng hồ từ London đến Brussels một mình. Đêm đó tôi sốt cao không biết bao nhiêu độ đòi đi bệnh viện nhưng anh bảo sốt chút ít chắc không đến nỗi nào, tôi nằm khóc lóc thảm thiết và dọa nếu chuyến này có chết sẽ hiện về bóp cổ. Nhưng khuya đến, mấy lần giật mình dậy vì sốt tôi lại thấy Aly ngồi cạnh giường, loay hoay lấy khăn ướt đắp lên trán cho tôi. Tôi biết ơn anh đã chăm sóc, giặt giũ nấu súp cho tôi những ngày quai bị hành tôi ôm mặt hết nạt nộ đến rên la, và biết được đúng ý nghĩa câu bạn bè trong khó khăn hoạn nạn mới thật là bạn.

Nhắc đến Southampton, tôi phải nhắc đến David, nhỏ hơn tôi bốn tuổi đang học Đại học Warwick vì cậu là một trong những người hiếm hoi từ xa đến chơi ở lại nhà tôi. Tôi quen David trong chương trình “Những người trẻ tuổi làm thay đổi thế giới” ở xứ Wales hai năm trước. Tuy anh chàng cao to đẹp trai nhưng tính tình hệt con nít, biết tôi viết báo cứ bảo bài nào của tôi nhắc tới hay có hình cậu thì cho một tờ để lồng kính treo lên. David trước đây là thành viên Nghị viện trẻ của Anh (UKYP), đã từng được đặt câu hỏi cho Thủ tướng Anh Tony Blair và hiện làm việc cho tổ chức “Con người và hành tinh”. Nhưng tôi thích cậu không phải vì những thành tích đạt được mà vì anh chàng ăn chay trường này thật sự quan tâm đến những vấn đề của thế giới như môi trường, đói nghèo, chiến tranh… Tôi hẹn với David sẽ đến ký túc xá Trường Warwick hoặc nhà bố mẹ cậu chơi hoài mà không được. Đến khi tôi sắp về Việt Nam, cậu vẫn còn gọi điện nhắc chừng nào mới ghé nhà chơi được đây.

Tôi yêu căn phòng nhỏ của tôi, có cửa sổ trông xuống khoảng sân phơi quần áo sau nhà, mỗi lần thấy Aly loay hoay đứng phơi đồ bên dưới tôi lại ôm gấu Yeovil ra giả giọng con nít kêu “ba ơi ba”. Tôi nhắc đến chú gấu bông màu vàng Yeovil. Đấy là chú gấu của đài BBC dành cho chương trình “BBC Children in need”, ủng hộ trẻ em nghèo ở các nước đang phát triển, mà tôi mua được trong một shop từ thiện ở Southampton. Tên nguyên bản đài BBC đặt cho chú là Pudsey, nhưng Aly và tôi gọi là Yeovil vì thích cái tên ngộ nghĩnh này. Chú là đồ chơi thân thiết nhất tôi từng có, đã từng theo tôi đi nhiều nước khác nhau. Mỗi lần có chuyện buồn tôi dễ vui trở lại khi nhìn dáng ngồi tự tin của Yeovil với hai chân giang ra, tay đặt lên đùi, miệng cười tủm tỉm, mắt lại băng một dải băng trắng có chấm bi đỏ kiểu cướp biển thật nghịch ngợm. (Khi tôi mang chú về Việt Nam, đứa cháu ba tuổi của tôi thấy Yeovil băng mắt hay cầm lên hỏi “Em bị sao vậy? Em bé ơi!”). Aly thấy tôi thích ăn chanh nhưng tiết kiệm không mua, nên thỉnh thoảng anh lại mua về để Yeovil ôm chanh trong lòng, rồi đặt chú ngồi trên giường trong phòng tôi. Anh hi vọng điều đó làm tôi bất ngờ cười thích thú khi đẩy cửa bước vào. Tôi không thể tưởng tượng nổi nếu lỡ làm mất Yeovil mình sẽ buồn đến mức nào. Có lẽ cũng như Tom Hanks trong phim Cast away khóc nức nở khi làm trôi mất bạn Wilson - quả bóng tròn ông vẽ mặt người lên chơi cùng trong những ngày một mình trên hoang đảo. Sau này, muốn mua bao nhiêu quả bóng giống hệt Wilson hay gấu giống hệt Yeovil cũng có, nhưng cái hồn của đồ chơi thân thiết gắn bó nhiều kỷ niệm, không thể nào thay đổi được.

Những ngày ở châu Âu, dù có rong ruổi ở những thành phố đẹp nhất hành tinh, tôi vẫn sung sướng ngày về được ngả người xuống giường mình trong căn phòng ấm áp sau chuyến đi dài mỏi mệt, mở TV xem những chương trình yêu thích (một trong những niềm vui lớn nhất của tôi khi sống ở Anh là thoát khỏi những bộ phim Hàn Quốc léo nhéo trên các kênh truyền hình) rồi lim dim ngủ. Ở đây một thời gian, vào những đêm thức khuya viết bài cho khóa học ở trường, thỉnh thoảng tôi lại nghe những chuỗi tiếng ho khan trong đêm tối. Sau mới biết của những kẻ lang thang nằm phía sau lưng nhà chúng tôi, những kẻ digan nay đây mai đó ngủ màn trời chiếu đất trong giá lạnh. Thế mới biết ngay cả trong lòng một nước tư bản phát triển vẫn tồn tại những thân phận hèn mọn đáng thương. Các bạn cùng nhà tôi nhăn mặt “tại họ, việc học được chính phủ tài trợ cả nhưng lười biếng không muốn học hành, không muốn lao động, cũng không muốn vào ở trong shelter (*) thì phải chịu thôi. Bọn này lừa đảo lươn lẹo lắm, có gặp ngoài đường Uyên phải cẩn thận”. Tôi không biết họ lừa đảo lươn lẹo đến mức nào, nhưng cứ giữa khuya học bài nghe những tiếng ho ngoài trời giá buốt lại thấy lòng xốn xang thương cảm.

Hết tháng sáu, chúng tôi kết thúc khóa học ở trường và bắt tay vào viết luận văn. Hợp đồng nhà cũng hết nhưng chúng tôi không ở lại vì ông bác sĩ Ailen không giảm giá mùa hè, trong khi ở những nơi khác giá giảm đáng kể do sinh viên bản xứ về hết. Đáng lẽ Aly cũng về nhà ba mẹ anh, nhưng vì muốn ở lại với tôi nên cả hai chúng tôi dọn qua chỗ ở mới trên đường Atherley, phòng rộng hơn nhiều và giá thuê hè giảm gần một nửa. Ông chủ nhà gốc Ấn Độ cũng hiền lành dễ tính hơn. Nhà rất lớn nhưng mùa hè những sinh viên thuê đã đi khỏi chỉ còn hai đứa tôi mới dọn qua và Nick, một anh chàng người Ấn cao lêu đêu nấu ăn rất chuyên nghiệp, thỉnh thoảng thấy tôi bận rộn anh lại tình nguyện nấu cho tôi cơm cà ri thật ngon.

Thời gian sống ở đây, tôi có việc làm Marketing Manager cho một công ty tư nhân nhỏ của Anh, lại tiết kiệm được tiền thuê nhà nên cuộc sống “sung túc” hẳn. Tôi ít đi siêu thị TESCO hơn vì ý thức được hệ thống khổng lồ của TESCO đã làm rất nhiều cửa hàng nhỏ phá sản, còn thức ăn ở đó nhiều thứ không được sản xuất theo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường tối ưu. Thay vào đó, tôi siêng đi chợ nhỏ dù giá có đắt hơn, mua hải sản từ hàng cá của một người phụ nữ mập mạp vui tính luôn chỉ dẫn cách nấu tường tận, rau củ trái cây từ những sạp trong chợ của nông dân, thịt từ hàng thịt tươi cạnh đó, và đồ ăn Việt Nam từ shop nhỏ của một gia đình Việt kiều vui vẻ. Tôi cũng ngưng hẳn không mua sữa siêu thị mà đặt người giao sữa. Sữa giao tận nhà trong chai thủy tinh cũng là một trong những thứ tôi nhớ nhất sau khi về lại Việt Nam. Ông chủ nhà tôi đã lớn tuổi, có ba nhà lớn cho thuê nhưng vẫn làm nghề giao sữa, có lẽ ông còn làm vì quen và nhớ nghề hơn lý do kinh tế. Thật thích thú khi sáng sớm nửa thức nửa ngủ vùi đầu vào chăn, nghe tiếng lanh canh của chai sữa chạm vào nhau khi người giao sữa đến trước nhà. Và không gì bằng những ngày cuối tuần ngủ nướng đến trưa, bước ra cửa thấy hai chai mập mạp bầu bĩnh bằng thủy tinh trong suốt, thấy màu trắng sữa bên trong, hơi nước lạnh toát lẫn sương bám li ti. Lũ chim chóc ở Anh rất tinh quái, theo thời gian, chúng biết được chai sữa bọc lớp giấy bạc màu trắng là chai đựng sữa nguyên kem (full cream) và chỉ mổ nắp chai uống trộm loại này thôi. Những chai bọc giấy bạc màu đỏ và xanh đựng sữa ít béo (skimmed hoặc semi-skimmed) chúng không buồn đụng đến.

Không biết có phải tại cảm giác hay không mà sữa giao trong chai tôi thấy ngon, béo ngậy và thơm hơn trong hộp nhựa siêu thị. Sau này tôi mới được biết nghề giao sữa đã gần như phá sản tại Anh do ở siêu thị bán rẻ hơn. Sữa là mặt hàng chính yếu nên chỉ cần đắt hơn vài xu một lít người ta cũng sẽ không chọn. Những công ty giao sữa tìm cách giao thêm nước cam, bánh mì…, song vẫn không giải quyết được vấn đề. Tôi cầu mong nghề giao sữa ở Anh đừng bao giờ bị mất đi, để ngày nào đó trở lại đất nước thân thiết này tôi sẽ còn nghe tiếng kêu lanh canh của những chai thủy tinh khi còn ngái ngủ rồi xách hai chai nhảy chân sáo xuống bếp pha trà với sữa uống buổi sáng. (Ngoài việc luyện tôi nói tiếng Anh chuẩn giọng Anh, Aly còn truyền cho tôi thói quen đúng kiểu Ăng-lê: uống trà mỗi ngày ít nhất ba lần, riết thành quen nếu không có lại bứt rứt khó chịu)

Công việc của tôi ở công ty nhỏ nọ làm từ xa, nghĩa là không phải đến văn phòng mà chỉ cần làm việc với đồng nghiệp qua điện thoại và Internet, nhưng đòi hỏi phải đi công tác nhiều. Nhờ làm ở đây, tôi đi được Bristol, Coventry, Bath ở Anh, Edinburgh và những vùng ven ở Scotland, và nhiều nhất là Wilmslow, một khu rất sang trọng gần Manchester nơi sếp tôi ở. Lần duy nhất tôi từ Wilmslow về bằng xe lửa những ngày London mới bị khủng bố, chuyến tàu của tôi sắp đến Birmingham thì được thông báo có dấu hiệu đặt bom ở tuyến gần sân bay nên tàu phải đi đường vòng, không qua ga đó nữa. Khi những ai đi sân bay Birmingham đã ngao ngán xách hành lý nặng trịch lục tục xuống xe buýt đi được một lúc mới có thông báo không có chuyện gì hết, những người ở lại trên tàu chỉ biết thở dài tội nghiệp cho “người ra đi”, có khi còn lỡ cả chuyến bay không chừng.

Tôi không đi tàu nữa mà chuyển sang bay, tôi thích những chuyến bay nội địa ở chỗ check-in rất dễ, chỉ cần đưa thẻ ngân hàng có tên mình vào máy từ và nhập số hiệu chuyến bay để nhận thẻ lên máy bay, không cần chứng minh thư hay hộ chiếu gì hết. Thẻ ngân hàng chẳng có ảnh, chỉ có tên tôi là Ms U Ngo, trong khi tên trên vé là Ngô Thị Giáng Uyên cũng chẳng sao. Những chuyến đi Manchester sáng đi chiều về ấy tôi cũng gặp rất nhiều người đi công tác giống tôi, mặc đồ vét xách laptop rất chuyên nghiệp, đúng cả hai chuyến đi và về chung với tôi như hẹn trước, khi nhận ra nhau chúng tôi nháy mắt thay câu chào. Đáng nhớ nhất là chuyến Southampton - Manchester của Hãng British Airways (BA) vào khoảng tháng tám, một chuyến bay hi hữu gộp lại tất cả những hành khách của ba tuyến Southampton-Manchester của BA, Southampton - Liverpool của BA, và Southampton -Manchester của Hãng Flybe. Ông hành khách ngồi gần tôi ngán ngẩm cho biết ông muốn đi Liverpool có việc gấp, ra khỏi nhà từ 2g chiều nhưng ngồi chờ mòn mỏi mấy tiếng ở sân bay. Mãi 10g tối họa may mới tới được Liverpool vì phải đi xe lửa từ sân bay Manchester đến Liverpool nữa, trong khi nếu đi xe lửa thẳng từ đây đến Liverpool chỉ mất chừng bốn tiếng đồng hồ. Rồi ông chìa cho tôi xem coupon trị giá ba bảng Anh, chua chát: “Nó đưa cái này để đền lúc chờ ở sân bay, nói “xin lỗi, mong ngài nhận lấy coupon này rồi muốn mua thức ăn gì cũng được”, làm như không phải nó đền ba bảng mà ba trăm bảng vậy”. (Quả thật ở sân bay Anh, ba bảng tương đương hơn 90 ngàn đồng chỉ mua được ổ bánh mì thịt và hũ yaourt ở cửa hàng Boots, nhưng tôi tiếc ông hành khách này không tới Việt Nam để xem Vietnam Airlines hoãn một chuyến bay đến mấy lần, một ly nước cũng không có mà uống, thử ông còn cằn nhằn đến đâu). Quả thật, chuyến đi “bão táp” lần đó không biết máy bay có bị quá tải không mà suốt chuyến chỉ bay thấp là đà, lúc nào cũng thấy phong cảnh bên dưới, lại gập ghềnh nảy lên nảy xuống như vấp ổ gà làm ai cũng thót tim.

Tôi đến Southampton một mình vào một ngày đầu tháng chín, và rời thành phố với Aly vào một ngày tháng mười năm sau, khi sương mù buổi sớm giăng đầy. Tôi về nhà ba mẹ anh tạm vài ngày trước khi bắt đầu chuyến du lịch vòng quanh châu Âu một tháng. Khi đi qua khúc quanh trên đại lộ, Aly đột nhiên bảo: “Tưởng tượng được không, mình đang rời khỏi Southampton luôn rồi!”.

Câu nói của anh làm tôi giật mình. Tôi không thể quay lại nhìn Southampton lần cuối vì băng ghế sau xe đã chất đầy những vali quần áo đồ đạc sách vở TV máy đĩa tận nóc làm ngăn tầm mắt tôi nhìn, và vì tấm chăn to tướng có bọc ra vẽ hình chim cò loạn xạ Aly mua từ Mông Cổ đặt trong lòng khiến tôi không mở cửa xe được. Nhưng tôi không buồn vì biết những kỷ niệm mười bốn tháng ở đây sẽ mãi còn trong tôi, tiếc chi cái nhìn lần cuối?

(*) shelter: nơi ở dành cho người nghèo không nhà