Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Hoa hồng và giẻ lau xe

TTCT - 1. Cô gái Đông Âu trạc tuổi chúng tôi gõ vào cửa kính xe, nói như van vỉ: “Làm ơn đi, làm ơn...”. A. lắc đầu: “Không, cảm ơn cô”. Cố tình không để ý đến lời từ chối, cô múc nước trong xô cầm trên tay, xối lên kính xe rồi nhanh nhẹn lấy giẻ lau tới lui. A. hạ cửa xe xuống, thò đầu ra ngoài cương quyết: “Tôi đã nói là không!”. Cô gái mang xô nước và mớ giẻ bước lên lề đường.

A. vẫn còn bực, chỉ lắc đầu ngán ngẩm. Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi thấy anh bực bội với người nhập cư, anh vốn nghiêng về cánh tả và luôn bỏ phiếu cho Công đảng, vả lại bản thân tôi cũng là người nhập cư. Nhưng chuyện gì cũng có giới hạn của nó, những người Đông Âu chuyên đứng gần ngã tư rửa xe kiếm tiền gây khá nhiều phiền toái về mặt giao thông, và hay quấy rầy ép chủ xe phải bất đắc dĩ trả tiền cho những lần rửa xe không trông đợi.


2. Hình ảnh những người nhập cư đó được thấy lần đầu tiên vào năm 2004, khi tám nước Đông Âu mới gia nhập EU có thể đến Anh làm việc hợp pháp. Chỉ gần hai năm đầu đã có trên dưới nửa triệu người, chưa kể những người không đăng ký chính thức. Họ làm đủ thứ nghề, đóng gói trong nhà máy, cắt cỏ, hái dâu, phụ hồ, lau dọn..., và vì hơn 60% trong số đó là người Ba Lan nên tất cả những người Đông Âu đều mặc nhiên được gọi là người Ba Lan, cái tên đối với người bản xứ cực đoan hàm chứa một sự coi thường.

Người có học, có việc làm tốt thường không lấy việc người Ba Lan nhập cư làm phiền, một phần vì tư tưởng thoáng muốn mở rộng hòa nhập, phần nữa do họ không bị ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo. Nhưng ở những khu lao động có thể thấy một sự miệt thị chống đối rõ ràng, vì dân Đông Âu sang “phá giá”, đồng ý chịu làm việc chân tay với số tiền thấp hơn dân Anh nhiều lần.

Tôi vẫn thấy những người Đông Âu đó đứng ở những quãng đường đông người và các ngã tư trong thành phố, có khi với xô nước và giẻ lau, có khi với những bó hoa hồng để giá bó nhỏ 3 bảng Anh, bó lớn 5 bảng. Hoa hồng bó rực rỡ xanh đỏ tím vàng chen nhau, thỉnh thoảng họ đến tận cửa xe mời mua. Có lẽ không ai nói cho họ biết người Anh không thích màu sặc sỡ, nếu có cũng phải một bó cùng màu, ít ai thích đủ màu “chim cò loạn xạ”. Và ai mua hoa khi vừa ngừng đèn đỏ vừa nhìn đồng hồ sốt ruột vì trễ cuộc hẹn, hay mong mỏi về tới nhà được duỗi chân trên ghế với một ly bia trên tay? Nhất là hoa đó đã trải qua cả ngày bụi bặm ngoài đường?

Có lần tôi ngồi trên xe của một anh bạn, tự nhiên anh thở dài “Cô ấy đang có bầu” làm tôi giật nảy lên “Cô nào?” vì anh chia tay bạn gái đã mấy năm nay, có vài mối quan hệ chẳng đâu vào đâu. Anh nói: “Cô gái Ba Lan ở ngã tư ban nãy”. Tôi nhớ lại, cũng những người nhập cư cầm mớ giẻ lau cửa kính mời khách giữa dòng xe hối hả ngược xuôi cuối ngày. Anh lắc đầu: “Thật là một cuộc sống khốn khổ”. Tôi nói như an ủi: “Nhưng cô ấy kiếm được nhiều tiền hơn thu nhập giáo viên ở nước cô ấy”. Anh ngưng một lúc rồi bảo: “Có khi còn nhiều hơn thu nhập bác sĩ không chừng. Nhưng chúng ta không chịu trách nhiệm cho cái nghèo trên thế giới, phải không?”.

3. Tôi nhớ lại những câu chuyện đó khi đang lái xe một mình, đoạn đường chỉ sáu cây số mà đi hơn tiếng đồng hồ chưa tới, xe cứ nhích được vài phân lại phải dừng. Đang vội vã, gặp kẹt xe ở London chỉ có thể ngửa mặt kêu trời, nhưng trời về chiều lại mưa lâm thâm làm kẹt xe càng tồi tệ. Một anh chàng Ba Lan len lỏi giữa những làn xe đông nghẹt, xách xô nước lại xe tôi, lấy giẻ lau bất chấp gạt nước đang gạt trên cửa kính. Tôi chưa kịp từ chối, dòng xe trước mặt bắt đầu lăn bánh, tôi chỉ về phía trước: “Tôi phải đi rồi, cảm ơn anh”. Anh xách xô đi về hướng những đồng nghiệp khác đang ôm hoa hồng sặc sỡ, để lại cho tôi một nụ cười làm tôi nghĩ bâng quơ không biết cuộc sống buồn bã của anh có gì để cười tươi như vậy.

Trời chiều mưa lắc rắc xong đã hửng nắng trở lại, tôi nhận ra ngày bắt đầu dài hơn, đã vào xuân, có lẽ ở quê nhà Ba Lan của anh chàng nọ tuyết bắt đầu tan...

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Sauna xứ ngàn hồ

TTCT - Nhắc đến Phần Lan, bên cạnh điện thoại Nokia, con tuần lộc, ông già Noel, ánh sáng phương Bắc..., người ta nghĩ ngay đến sauna (xông hơi khô). Với số lượng gần 2 triệu phòng sauna cho dân số chỉ khoảng 5 triệu người, Phần Lan là nước có tỉ lệ sauna trên đầu người cao nhất thế giới.

Trong một phòng sauna ở Helsinki  - Ảnh: lifeinhelsinki.worldpress
Tôi cầm cành bạch dương lên ngắm nghía. Đã vào thu, rừng bạch dương ở ngoại thành thủ đô Helsinki chuyển vàng nhưng cành cây tôi cầm vẫn còn xanh. Thấy vẻ lơ ngơ của tôi, cô gái Phần Lan ngồi chung phòng sauna giải thích: “Cành này được hái vào mùa hè, sau đó cho vào thùng giữa những lớp muối hột để bảo quản. Khi hết hè, lấy ra ngâm vào nước nóng một lúc là có thể dùng được”.

Tôi đưa nhánh lá lên mũi, nhắm mắt hít một hơi dài. Một mùi thơm dễ chịu thoảng nhẹ: mùi của thiên nhiên, của khói, của những rừng bạch dương khắp nơi trên đất nước Bắc Âu còn được gọi là xứ sở ngàn hồ này. Xung quanh tôi, người ta lấy nhánh bạch dương còn nguyên lá quất vào lưng nhau, trông ai cũng có vẻ thư giãn và sảng khoái.

Chúng tôi đang ở trong sauna bên bờ biển của khu cắm trại Rastila. Ở Phần Lan, hầu như những điểm sauna công cộng đều nhận khách vào ba thời điểm khác nhau: giờ khách nam riêng, giờ khách nữ riêng hoặc giờ dành cho cả hai giới (unisex). Chỉ vào giờ unisex người ta mới cho phép mặc đồ tắm.

Trong khi người Phần Lan bình thường mang tiếng rụt rè ít nói nhưng khi vào phòng sauna không mặc bất cứ mảnh quần áo nào vẫn tỉnh bơ như không miễn là cùng giới. Một cô bạn đồng nghiệp người Anh bảo có lần đi công tác Phần Lan, họp xong cả công ty rủ nhau vào sauna, ai cũng cởi hết quần áo ngồi nói chuyện tự nhiên, riêng cô mắc cỡ đỏ mặt (dân Anh ai nghe chuyện cũng trợn tròn mắt: “Vậy à, vậy à?”).

Ngày hôm sau vào họp tiếp, tuy ai cũng quần áo tề chỉnh nhưng cô vẫn cứ nghĩ đến hôm trước ở phòng sauna nên đầu óc lơ mơ, chẳng đóng góp được ý kiến gì hết.

Trong sử thi Phần Lan Kalevala - áng văn chương bất hủ gồm những bài thơ, dân ca, những câu chuyện từ xa xưa - cũng có nhiều đoạn nhắc đến sauna, như đoạn tả Annikki, cô em gái anh thợ rèn Ilamarinen, chuẩn bị sauna cho anh đêm trước khi anh cưới vợ:

Annikki, em gái của ta...
Bây giờ, em chuẩn bị một sauna cho ta
Làm cho phòng thơm ngọt như mật ong
...
Để ta rửa sạch những bồ hóng của mùa thu
Và tro của những ngày làm việc mùa đông”
Annikki, cô gái tốt bụng
Bí mật đốt lửa ấm phòng sauna
Bằng những cành cây bị gió làm gãy
...
Lượm những viên đá từ dòng sông
Đốt nóng chúng cho tới khi sẵn sàng
Bẻ một cành đầy lá từ bụi cây
Để trên viên đá có hơi nước cho mềm cành.

...

Không chỉ sử thi Kalevala, rất nhiều tác phẩm văn học khác của Phần Lan cũng nhắc đến phòng xông hơi gỗ truyền thống này, trong đó có Cô hầu gái Silja của Frans Sillanpaa, tác giả Phần Lan duy nhất đoạt giải Nobel văn chương.

Đã tồn tại khoảng 3.000 năm, sauna là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Phần Lan dù ở nhiều nước loại hình này chịu nhiều tai tiếng vì trá hình. Ở London (Anh) thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những phòng “sauna Thái Lan” tối tăm kéo rèm kín mít, đêm khuya vẫn thấy mấy cô gái người Đông Âu sang Anh làm ăn đứng bên ngoài chờ khách.

Sauna ở Phần Lan còn được nâng lên như một sinh hoạt linh thiêng có thể so sánh với tôn giáo. Vào năm 1776, một nhà kinh tế học Thụy Điển đã sửng sốt nhận xét về những người láng giềng Scandinavia: “Những người cứng đầu này thậm chí còn gắn liền sauna với thần học và xem phòng sauna như một dạng thánh địa”. Có một câu tục ngữ thỉnh thoảng còn được nhắc lại ở Phần Lan ngày nay: “Trong phòng sauna, phải xử sự như trong nhà thờ” (khác chăng là trong nhà thờ có mặc quần áo, tôi trộm nghĩ).

Trong những ngày thu lạnh lẽo chờ xem ánh sáng phương Bắc ở vùng cực bắc Lapland, những trò vui mùa hè đã qua từ lâu, mùa trượt tuyết thì chưa đến, trời lại mưa lâm thâm nên sauna gần như là hình thức giải trí duy nhất. Còn gì bằng một ngày lạnh tê tái cõi lòng, hai cánh tay ôm thu lu trước ngực xuýt xoa vì những cơn gió cực Bắc buốt giá, được bước vào phòng sauna gỗ của khách sạn, dùng gáo múc nước tưới lên lò than kêu xèo xèo để khói nóng bốc lên làm hai má đỏ ran.

Và đặc biệt, sauna đúng phong cách Phần Lan không thể thiếu tiết mục bơi hồ sau khi xông. Khi chúng tôi từ phòng sauna ở Lapland bước ra, tuy trời chưa đổ tuyết nhưng hồ nước trước mặt đã phủ một lớp băng mỏng, trông như lớp đá trên bề mặt ly nước để trong ngăn đá tủ lạnh chưa đông hẳn. Vậy mà dân địa phương ở đây vẫn không chùn bước, tìm chỗ chưa phủ băng nhảy ùm xuống bơi. Máu phiêu lưu của tôi có hạn nên tôi quyết định không thử chiêu này, mặc dù đã sống qua mấy mùa đông nước Anh nhưng nếu không quen bơi trong nước buốt giá thế này có thể bệnh liệt giường như chơi!

Có người nói không nên tắm sau khi xông vì lỗ chân lông nở ra dễ bị nhiễm lạnh, nhưng dân ở đây ai cũng hồng hào cao lớn. “Một cô gái Phần Lan khỏe mạnh bằng hai chàng trai Pháp” - một cuốn sách của Agnes Rothery xuất bản tại New York năm 1937 đã nói vậy. Không biết dân Pháp có phản đối không nhưng trong chuyến đi này tôi thấy coi bộ vậy mà đúng, người Phần Lan trông ai cũng có vẻ thể thao, rắn rỏi, có lẽ nhờ sauna chăng?

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

Slovenia, ngon quên đường về

Có tiếng gõ cửa phòng, tôi choàng dậy thấy trời đã sáng rỡ, có mấy con chim đậu ngoài cửa hót nghe vui vui. “Loạng choạng” ra mở cửa, tôi thấy chị chủ khách sạn bưng lên một dĩa bánh nhìn đã thấy thèm.

Chị có vẻ áy náy khi thấy tôi mắt nhắm mắt mở, nhưng tôi xua tay: “Ồ không, giờ này dậy là trễ quá rồi”, rồi đón lấy dĩa bánh: “Chị tử tế quá, cảm ơn chị”.

Tôi tự pha cho mình một ly cà phê rồi ra ban công nhấm nháp bánh. Loại bánh chị đem lên cho tôi là gibanica, bánh truyền thống Slovenia và các nước vùng Balkan, được sắp thành lớp bột mỏng, loại bột nướng cắn vào giòn như bánh sừng trâu của Pháp, ở giữa kẹp phô mai ngọt mềm mại và hạt poppy giống mè đen li ti.

Ban công nơi phòng tôi nhìn xuống thung lũng xanh rờn thích mắt, không khí buổi sáng vùng núi xứ Alps làm người nhẹ tênh, thật là một ngày khởi đầu “có lý” cho một kỳ nghỉ đúng nghĩa.

Cá nướng và vang

Trước khi đến Slovenia (thuộc Nam Tư trước đây), tôi đã có hơn tám tháng không rời khỏi nước Anh ngoại trừ một chuyến đi ngắn ngủi đến miền Bắc xứ Wales, nhưng xứ Wales cũng tính là Anh vì mọi thứ không khác gì mấy.

Bữa trưa hải sản bên bờ biển xanh đầy nắng
Vốn hay đi đó đây, tám tháng đủ làm tôi cuồng chân không chịu nổi, vì vậy tôi rất trông đợi những ngày ở đất nước Đông Âu ít người biết đến này, đất nước nhỏ bé nhưng dường như có tất cả: có những dãy núi xứ Alps trùng điệp quanh năm tuyết phủ, có Địa Trung Hải nóng bỏng, có những con sông chảy xiết đầy cá, có những cánh đồng nho ngút ngàn, và đặc biệt có những món ăn ngon lành nhưng ít ai biết đến.

Đêm đầu tiên ở đây, tôi đã ăn món cá nướng tuyệt ngon trong một nhà hàng nhỏ phong cách Balkan gần hồ Bled. Khi gọi cá nướng, tôi tưởng sẽ được đem ra một miếng philê cá nhỏ nhưng không ngờ đầu bếp cho nguyên một con cá khổng lồ dài gần hai gang tay lên bếp.

Nhà hàng có bếp nướng đặt trực tiếp ở chỗ những nơi khác làm quầy bar, khách có thể nghe tiếng xèo xèo của mỡ cá và mùi thơm dậy lên làm chảy nước miếng. Lớp da cá chín vàng giòn, bên trong thịt trắng muốt và chắc nịch, ăn với khoai tây và món rau spinach địa phương luộc trộn muối hột và dầu ôliu đậm đà, kèm ngụm rượu vang trắng làm đê mê đầu lưỡi.

Nhắc đến rượu vang, có thể nói tôi chưa đến bất cứ nơi đâu rượu rẻ như ở đây. Một ly rượu ở một nhà hàng sang trọng chỉ dưới một euro, mà rượu ngon đàng hoàng, se, ngọt và thanh, không thua kém các loại vang nổi tiếng của Pháp, Ý, Tây Ban Nha…

Những cánh đồng nho xanh rờn ở Slovenia cũng là một trong những điểm du lịch, trong đó có luống tuổi đời trên dưới 400 năm, được cho là luống nho già nhất thế giới còn cho trái. Có lần tôi thắc mắc hỏi sao rượu Slovenia ngon vậy nhưng không thấy bán ở những nước khác, mới được biết rượu ở đây làm ra chỉ đủ cho dân bản xứ dùng.

Pizza “ngon nhất thế giới”!

Ẩm thực Slovenia chịu ảnh hưởng qua lại từ nhiều nước láng giềng. Những năm dưới sự cai trị của đế quốc Áo - Hung mang lại những món xúc xích và bánh strudel của Áo, món xúp goulash và thịt bò hầm của Hungary. Ảnh hưởng của Đức có thể thấy qua việc bắp cải và khoai tây có mặt trong hầu hết những bữa chính. Miền Nam giáp với Ý nên cũng du nhập nhiều món Ý như cơm risotto, mì sợi, và không thể không nhắc đến pizza.

Món pizza “ngon nhất thế giới” trong một chiều mưa xứ Alps
Tôi đã đi Ý hai lần, ăn nhiều pizza chính hiệu Ý nhưng món pizza ngon nhất thế giới tôi từng được ăn lại ở Slovenia, tại một nhà hàng trong con hẻm nhỏ trên đường đi xuống từ lâu đài Bled. Đó là một buổi chiều mưa bất chợt, đang tham quan lâu đài trên cao nhìn xuống hồ thì mưa bắt đầu lắc rắc, làm tôi phải chạy hụt hơi xuống mấy trăm bậc thang vì sợ mưa lớn bị kẹt lại ở trên thì khổ.

Xuống đến hồ ngồi vào chỗ có mái che nhìn mưa dầm, hồ có đẹp, có nhiều vịt nhiều thiên nga đến mấy nhìn hoài cũng chán, tôi đội mưa đi lòng vòng kiếm chỗ ăn. Ngày hôm trước tôi trang bị đầy đủ áo ấm khăn choàng thì nắng nóng, hôm nay chủ quan không mang gì theo thì mưa gió lạnh run cầm cập.

Một trong những quán ăn địa phương giản dị dưới giàn nho đúng phong cách Địa Trung Hải
Đi bộ một lúc, tôi thấy quán pizza có ban công mái che thắp đèn ấm áp, chỗ ngồi nhìn ra tháp nhà thờ và những căn nhà gỗ xinh đẹp treo những giỏ hoa tươi nước mưa nhỏ long tong. Tôi hơ tay trên nến đặt giữa bàn, gọi một pizza cỡ nhỏ nhưng được mang ra một chiếc to như chiếc mâm, lớp bột bên dưới và rìa bánh giòn rụm nhưng bên trong lại dẻo mềm nhờ lớp phô mai vàng nhạt lẫn với cà chua đỏ óng ánh, bề mặt đầy hải sản mực, cá, tôm, cua, sò, vẹm, đúng nghĩa “ngon quên trời đất”, mưa sụt sùi ngoài kia vẫn thấy cuộc đời tươi đẹp biết bao.

Đang ăn, một khách bước vào nhìn tôi kêu lên: “Trời, gặp bạn ở đây!”, tôi nhận ra cô gái người Ailen ngồi cùng chuyến xe buýt từ sân bay thủ đô Ljubljana đến Bled. Cô mở cuốn sách hướng dẫn du lịch trên tay, hỏi: “Bạn cũng biết nhà hàng này qua sách?”, tôi lắc đầu: “Không, tôi tình cờ khám phá ra. Số tôi luôn gặp xui với thời tiết nhưng hay gặp hên chuyện ăn uống”.

Bánh kem và xúp… ngon quên đường về

Sau năm ngày, tôi luyến tiếc chia tay thành phố Bled non xanh nước biếc, dĩ nhiên trước khi đi không quên ăn bằng được món bánh kem (Kremna rezina) nổi tiếng, được sáng chế tại đây sau Thế chiến thứ hai. Người Slovenia ở những vùng khác vẫn thường lặn lội đến tận Bled để ăn món này.

Bánh kem Bled nổi tiếng béo ngậy ngon lành
Tôi chọn quán bánh ngọt Smon có logo hình con gấu liếm kem, chỉ cần nhìn lượng khách dài ngoằng xếp hàng ra tận cửa là thấy yên tâm. Có lẽ quán có tới hàng trăm loại bánh và kem khác nhau, xếp lớp trong tủ kính, ai hảo ngọt vào đây chắc không thể kềm lòng được. Tôi gọi món “quốc hồn” ở đây rồi ngồi trong cái nắng xứ Alps cũng ngọt như bánh, ngắm nghía mãi không dám ăn vì sợ hết.

Bánh thoảng mùi vani, được sắp thành nhiều lớp, dưới cùng là lớp bột giòn mỏng, đến một lớp dày sữa trứng dẻo giống món tráng miệng custard của Anh, rồi một lớp kem dày mềm mịn màng, loại kem tươi phết trên bánh sinh nhật, trên nữa là mấy lớp bột giòn, trên cùng rắc đường trắng li ti như tuyết.

Như đã nhắc tới ở trên, Slovenia tuy nhỏ bé nhưng có vị trí địa lý khiến nhiều nước châu Âu lớn phải lấy làm ghen tị, vì chỉ gần hai giờ đồng hồ trên xe, tôi đã rời xứ Alps núi non chập chùng để đến với Địa Trung Hải ngập nắng và gió mang theo mùi muối biển mặn.

Phố cổ Piran đẹp như tranh với bờ biển chan hòa nắng có những con thuyền trắng giương buồm, những ngôi nhà xưa ở quảng trường mang phong cách Venice, những quán ăn dưới giàn nho chín mọng đầy khách ăn uống nói chuyện rôm rả. Ở đây, tôi như sống trên thiên đường vì món xúp cá. Hôm đầu tiên, xúp nấu với vẹm xanh lẫn những sớ cá nạc thơm ngon mặn mà như tô bánh canh cá dầm miền Trung Việt Nam, cà rốt xắt mỏng, bên dưới là những hạt gạo mềm nở bung, ăn kèm bánh mì nhỏ bằng bàn tay phết bơ và dĩ nhiên, rượu vang.

Xúp cá mặn mà
Món xúp cá ngày hôm sau khác hẳn, nấu với rất nhiều cà chua nghiền đỏ tươi kèm rau thơm nhuyễn, tôm lột vỏ đỏ hồng lặn bên dưới chung với cá trắng phau, ăn với bánh mì nướng xắt khoanh chấm dầu ôliu. Mỗi loại xúp ngon mỗi kiểu, ngọt lừ vì nấu bằng hải sản tươi.

Xúp cá ngày thứ hai này là món khai vị cho một set menu buổi trưa giá chỉ 14 euro của một nhà hàng hạng sang bên biển, thực đơn này ở những thành phố châu Âu khác ở nhà hàng sang như vậy giá gấp ba, bốn lần, vì ngoài xúp cá còn có món chính philê cá nướng than vàng óng, ăn kèm một tô rau trộn khổng lồ đầy dưa leo, cà chua, xà lách, bắp ngọt và hành tây, cuối buổi lại tráng miệng bằng ly cocktail trái cây xắt hạt lựu chua chua ngọt ngọt.

Bàn tôi ngồi hướng ngay ra Địa Trung Hải xanh thẳm lấp loáng nắng trưa, trong những cơn gió lồng lộng thổi từ biển thật thích. Về lại Anh, mỗi lần tôi khoe bữa ăn này, bụng ai cũng sôi lên sùng sục.

Ở Slovenia, tôi thích thú nhận ra ngay cả ở những thành phố du lịch vẫn không thấy bóng dáng các quán ăn nhanh hay các chuỗi cà phê toàn cầu. Đất nước Đông Âu này vẫn tự hào là một trong những nơi khởi nguồn “ăn chậm”, với những buổi họp mặt bạn bè, những bữa ăn ở các nông trang hoặc các nhà hàng theo trào lưu này, mỗi bữa từ tám món trở lên, tất cả đều được nấu theo kiểu cổ, được mang ra lần lượt và mỗi món được uống với mỗi loại rượu khác nhau.

Bữa “ăn chậm” cũng là dịp trò chuyện trong không gian ấm áp thư giãn, để vào tuần lễ mới tiếp tục với công việc bận rộn. Nhưng tôi không tham gia vào bữa “ăn chậm” nào, một phần vì mỗi bữa hơn tám món chắc sẽ lên ký vùn vụt, một phần vì chỉ một tuần ăn uống bình thường ở Slovenia thôi đã ngon quên đường về.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

Tạp bút: Ngắm sông ngậm ngùi

TTCT - A. bảo: “Mình đi Việt Nam về được hơn một năm rồi đó!”. Tôi nói: “Ừ, được một năm”. Không để ý tới vẻ thờ ơ của tôi, anh hào hứng: “Tết sang năm về nghen!”, tôi nhún vai không nói không rằng.

Ảnh: Gia Tiến
Có vẻ mất hứng, anh dợm bước đi nhưng nghĩ sao lại nói tiếp: “Mà hình mình chụp ở Việt Nam hồi năm ngoái đâu mất hết rồi? Máy kỹ thuật số là vậy, chụp cho nhiều vô mà có bao giờ thấy hình đâu”. Tôi nói cho qua chuyện, mục đích để ông bạn trai “biến” giùm: “Để chút nữa em tìm cho”.

Giữ lời hứa, tôi mở máy tính tìm hình. Thư mục hình ảnh tôi sắp xếp theo thứ tự nơi chốn và thời gian, sau vài giây lục lọi đã tìm ra “Việt Nam 2008”, chợt nhận ra không biết từ bao giờ Việt Nam đã thành một địa danh du lịch của chính tôi. Những hình ảnh của chuyến đi lướt qua: trâu trên đồng, chuyến tàu ngoài đảo, những chiếc vó đánh cá trên biển, bánh bột lọc, nước mía, con gà mái với đàn gà con gần bụi chuối...

Tôi dừng lại ở bức hình một ông già ngồi chờ khách trên xuồng nhỏ hình chiếc lá tre trên sông Hoài, Hội An. Tôi nhớ lại lúc đó tôi đứng trên bờ nói vọng xuống sông: “Cho con chụp một tấm nghen ông!”. Ông ngước nhìn, cười rất hồ hởi. Lúc đó tôi không nhận ra đó không phải nụ cười dành cho du khách, cho người lạ qua đường. Đó là nụ cười dành cho con cháu, như thể có đứa nào trong nhà nói: “Ông ẵm cháu ngoại đi, con chụp một tấm”.

Ông già quá, chắc phải hơn tám mươi, răng rụng gần hết, người gầy gò liêu xiêu, đội nón lá rách tơi tả. Úp trên xuồng là một nón lá mới tinh, chắc để dành cho khách. Và vì thế nụ cười hồ hởi của ông bây giờ nhìn lại tấm hình tôi thấy buồn, nghĩ không biết ông ngồi đò chờ cả ngày có ai đi không. Đã có cây cầu bắc ngang, dân địa phương ai bỏ tiền đi đò làm gì nữa. Khách du lịch thấy ông già lụm cụm, có muốn giúp ông kiếm thêm tiền cũng không ai nỡ ngồi cho ông chèo.

Hồi nhỏ tôi rất làm biếng, mẹ hay nói: “Mỗi lần nhắc nó làm gì giống như nhắc đò”. Có lần tôi hỏi: “Nhắc như nhắc đò là sao mẹ?”, bà nói đại cho qua chuyện: “Là giống như người qua sông dặn “Chút nữa đò nhớ chờ tui nghen đò”, phải nhắc đi nhắc lại không thì đò quên, đi mất không có đò về nhà”. Chị tôi nói: “Sao nghe buồn thiu vậy, giống như tưởng tượng một bà quê mùa lam lũ gồng gánh qua sông bán hàng”. Tự nhiên lúc này nhìn tấm hình ông lão trên sông Hoài tôi lại nhớ tới chuyện “nhắc đò” đó.

Và nhớ lời một bài hát của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển: “Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi...”.

Đâu phải chỉ phương Nam, về nhà mình ngắm sông ở đâu cũng thấy ngậm ngùi. Cách đây gần ba năm tôi đi Ninh Bình một mình, ngồi thuyền đi Tam Cốc. Chèo thuyền cho tôi cũng là một ông tuy không già như ông lão ở Hội An nhưng cũng hơn sáu mươi. Mỗi thuyền, chèo bằng tay, đi hai giờ đồng hồ hình như có giá bốn chục ngàn đồng hay bao nhiêu tôi không nhớ rõ, chỉ nhớ là một con số thấp đến nực cười. Ông bảo có khi một tháng mới đến lượt mình chèo một chuyến, vì dân ở đây hầu như nhà nào cũng mua thuyền trong đợt phát triển du lịch cách đây vài năm, không có tiền cũng bán ruộng mua, vay nợ mua. Nhưng thời điểm nở rộ du khách rất ngắn ngủi, thị xã Hoa Lư trở lại đìu hiu, thuyền bán đổ bán tháo không ai lấy.

Tôi vào máy tính trở lại, lưu hình Việt Nam vào một mục riêng. Tôi hiểu vì sao A. muốn quay lại, dù lần nào qua cũng bị muỗi cắn sưng khắp mình mẩy, ngộ độc thức ăn nằm liệt giường mấy ngày, vào nhầm quán matxa trá hình bị dụ dỗ phải bỏ của chạy lấy người, mua hàng bị chặt chém.

A. không phải người hời hợt nhưng anh là người ngoài, một người ngoài đúng nghĩa. Về Việt Nam có gặp những điều khó chịu cũng chỉ là một phần của một chuyến đi xa, là những điều ở xứ sở lạ lẫm thay đổi cho cuộc sống yên ổn anh sống, có mất vui lúc đó nhưng không vì vậy mà hết hứng thú quay trở lại. Còn tôi, là người trong cuộc tôi cảm nhận những điều khó chịu đó chỉ là phần nổi của tảng băng xã hội còn những nỗi bất an.

Và vì vậy lần nào về ngắm sông cũng thấy ngậm ngùi...

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

Ghent của những tia sáng thiên đường

Tôi nhìn ra cửa sổ tàu, nói: “Cảnh vật vùng Flanders của nước Bỉ đúng là dẹp lép như cái bánh xèo”. Đây là vùng không có đồi núi cao chập chùng mà rất bằng phẳng giống Hà Lan và một phần vùng England ở Anh, cho thấy giả thuyết ngày xưa khi đại dương chưa ngăn nước Anh với châu Âu lục địa, đây có thể là một phần dính liền nhau.

Đó là một ngày mùa đông trời âm u, chúng tôi đang trên đường tới Ghent (Gent trong tiếng địa phương) từ Bruges ở miền Bắc nước Bỉ, cả hai nơi đều nằm ở vùng Flanders, được biết đến nhiều vì là nơi diễn ra những trận chiến đẫm máu của Chiến tranh thế giới thứ nhất, cũng là bối cảnh câu thơ của John McCrae: “Nếu bạn quên chúng tôi, những người đã chết/ Chúng tôi sẽ không ngủ được, dù hoa anh túc vẫn cứ nở/ Trên những cánh đồng xứ Flanders”.

Ở vùng này còn có tour du lịch tên “Phía Tây không có gì lạ” (lấy theo tên một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn E. Remarque) dẫn khách đến những nơi nhiều bom đạn trong chiến tranh. A., bạn đồng hành của tôi, tốt nghiệp khoa chính trị nên rất thích tìm hiểu về những vấn đề tương tự thế này, nhưng tôi sau những tháng làm việc căng thẳng không muốn đi chơi lại phải suy nghĩ nhiều. Cuối cùng chúng tôi quyết định chỉ đi những nơi có cảnh đẹp để nghỉ ngơi.

Biệt thự cổ, bản đồ xưa…

Căn phòng ở Ghent nằm trên tầng áp mái của một biệt thự kiểu xưa ở trung tâm thành phố, cửa sổ đầu hồi dốc ngược lên trên, có thể nhìn thấy bầu trời xanh chuyển dần sang thẫm của buổi chiều chạng vạng. A. nhìn quanh phòng với vẻ rất hài lòng: “Phòng mình có thể được gọi là atmospheric”*.

Một trong những ngôi nhà có mái đầu hồi hình bậc thang ở Graslei (nghĩa là Phố Rau, giống như cách đặt tên đường ở Hà Nội xưa)
Quả vậy, một khoảng lớn trên tường gần đầu giường còn một bức tranh mural vẽ Đức mẹ đồng trinh đã phai màu, như đã có mặt trên đời từ cách đây mấy trăm năm (Gần hai năm sau buổi chiều đó, lúc tìm lại tư liệu để viết bài, tôi mới phát hiện ra nơi chúng tôi ở được xây vào thế kỷ XIX bao quanh những hàng hiên của một tu viện cổ đã đổ nát, vì vậy vẫn còn giữ lại những bức tranh mural từ thế kỷ XV).

Sau hai ngày ở phố cổ Bruges đẹp như chuyện thần tiên, chúng tôi không trông đợi nhiều ở Ghent và vì vậy thấy thật thoải mái, thư thả. Để đi bộ tìm chỗ ăn tối phải băng qua những con kênh đào phản chiếu ánh đèn từ những ngôi nhà có mái đầu hồi chỗ nhọn chỗ uốn lượn làm tôi nhớ đến Amsterdam, chỉ thiếu dân hippy xộc xệch đến hỏi có muốn mua cần sa không.

Ghent yên tĩnh và dễ chịu hơn thủ đô Hà Lan rất nhiều, tôi đứng một lúc trên cầu mang tên cầu Thánh Michael (St Michelsbrug), phóng tầm mắt nhìn ra xa trên con sông Leie cho đến khi đói bụng mới tiếp tục đi. Chúng tôi chọn một quán ăn có nến, ngồi gần lò sưởi ăn sò hấp trong khung cảnh êm đềm, sẵn sàng cho một giấc ngủ ngon và một ngày khám phá thành phố vào sáng sớm.

Nhưng giấc ngủ không ngon như tôi tưởng. Cửa những căn phòng trong biệt thự rất nặng, mỗi lần mở ra đóng vào gây ra tiếng động rất lớn, trong không gian vắng lặng càng dễ giật mình. Tôi ngủ chập chờn, sáng ra còn lờ mờ nhớ tới giấc mơ thấy Đức mẹ bước xuống từ trên tường, thật dễ ớn xương sống. Bởi vậy buổi sáng tôi ngủ mê mệt, bỏ ăn sáng. A. đem lên phòng ly nước cam, khoe: “Ở đây cho ăn sáng ngon lắm, nhưng trễ hết giờ ăn rồi. Thôi dậy uống nước đỡ rồi còn đi chơi”.

Buổi sáng bước xuống cầu thang, tôi khám phá ra chỗ ở của mình thêm một điểm mới: Trên bức tường cầu thang có treo một bản đồ thế giới rất lớn. Bản đồ này có lẽ đã có từ rất lâu vì có nhiều chỗ ố vàng và cách viết địa danh kiểu xưa, tôi dò tìm Việt Nam thì thấy tên trên bản đồ còn là An-Nam. Bản đồ được đánh dấu rất nhiều nơi, có lẽ là những nơi chủ nhân biệt thự đã từng đặt chân tới.

Bản đồ xưa chỉ là một trong những điều thú vị chúng tôi khám phá ra trong suốt thời gian ở thành phố nhỏ bé này. Điều thú vị đầu tiên là Ghent không “nhỏ bé” như tôi tưởng. Thật vậy, suốt từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, đây là thành phố lớn thứ hai châu Âu lục địa, chỉ sau Paris của Pháp. Đó cũng là thời hoàng kim của phố cổ này, với ngành giao thương về vải vóc tầm cỡ lớn nhất nhì thế giới. Dấu ấn thời giàu có vẫn còn lưu lại trên những ngôi nhà xưa, trên những công trình kiến trúc từ thời cổ đại và sau này như kiểu Roman, Gothic và Baroque.

Lâu đài của Bá tước

Có lẽ xưa hơn cả là Gravensteen (Lâu đài của Bá tước), chỉ nghe tên đã thấy không khí liêu trai. Lâu đài được xây từ thế kỷ IX như một thành lũy chống lại cướp biển Viking, với những bức tường đá vững chãi.

Một góc lâu đài của Bá tước (Gravensteen) được xây từ thế kỷ IX để chống lại cướp biển Viking
Cánh cổng vào bên trong lâu đài Gravensteen
Lâu đài là nơi ở cho bá tước, những người hầu, và có cả một ngục tối dùng làm nơi tra tấn tù nhân với đủ các cực hình kiểu trung cổ, trên đỉnh lâu đài còn là nơi từng để treo cổ tội phạm. Tôi vốn không mấy quan tâm tới những biến cố lịch sử ghê rợn đó nên đưa máy ảnh cho A. vào tham quan bên trong, còn mình thì thả bộ trên những con đường lát đá cuội, ngắm thành phố.

Điểm thú vị tiếp theo là Ghent có rất nhiều tiệm tạp hóa mang phong cách hoài cổ, cửa kính bày những chai dầu gội đầu, pin máy chụp hình, rượu mùi, bia, những túi hạt dẻ và đậu phộng, như trong một cuốn phim về châu Âu thập niên 1950. Những quán cà phê, nhà hàng, quán bia, tiệm bánh ngọt… ở đây giá cả rất phải chăng vì hướng tới dân địa phương hơn là du khách.

Một trong số những tiệm tạp hóa kiểu xưa
Trong một khu chợ mái vòm tôi ghé, trên trần nhà còn có treo những đùi heo to tướng xông khói, chỉ nhìn đã thấy béo ngậy ngon lành. Trời lạnh và đầy mây, tôi đi ngang một cửa sổ sơn xanh lá cây mở vào trong, bên ngoài là một nhóm trẻ con xếp hàng chờ.

Những đứa trẻ xếp hàng mua bánh waffle mới ra lò
Ban đầu tôi tưởng không có ai bên trong cửa sổ, nhưng như thể có phép lạ, một người đàn ông trung niên hiện ra, tay cầm những chiếc bánh waffle đặc sản Bỉ to tướng còn bốc khói nghi ngút, giao cho từng em. Chúng thích thú thổi vào bánh phù phù, cắn vào bánh nghe giòn rụm, làm tôi cầm lòng không đậu cũng xếp hàng mua một chiếc.

Kiệt tác Sự tôn thờ Cừu Thánh

Ngày cuối cùng ở Ghent, chúng tôi đến nhà thờ Thánh Bavo, St Baafskathedraal, để xem kiệt tác Sự tôn thờ Cừu Thánh của danh họa Jan Van Eyck, người theo trường phái Phục hưng Phương Bắc và được cho rằng đã sáng tạo ra nghệ thuật vẽ tranh sơn dầu. Hội họa vùng Flanders (Flemish Painting) được biết đến nhờ những đường nét tự nhiên và sinh động, được trưng bày trên rất nhiều bảo tàng lớn khắp thế giới như những tác phẩm kiệt xuất của nhân loại.

Nến đựng trong ly thủy tinh đỏ bên trong nhà thờ Thánh Bavo (St Baafskathedraal)
Bức tranh mà chúng tôi sắp được xem là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất thế giới, còn được gọi là một trong bảy kỳ quan của nước Bỉ, được thực hiện vào nửa đầu thế kỷ XV. Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa ngã ngũ việc tranh này có phải hoàn toàn của Jan, hay một phần được vẽ bởi Hubert Van Eyck, người anh ruột lớn hơn Jan gần hai mươi tuổi.

Trước khi xuống xem kiệt tác này dưới tầng hầm, chúng tôi dạo vòng quanh bên trong. Những nhà thờ châu Âu thường có bàn đặt nhiều nến trắng để khách thập phương thắp nến và cho tiền xu vào hộp gỗ tặng nhà thờ. Riêng nhà thờ này lại để nến trong những ly thủy tinh đỏ, tạo cảm giác ấm áp cho một ngày đông nhiều mây khi hai bàn tay đeo găng vẫn lạnh cóng.

Đám đông xếp hàng trước cửa mua vé vào xem tranh khá dài, tôi đã có ý định bỏ cuộc (xếp hàng mua bánh waffle thì lâu mấy cũng được, nhưng xếp hàng vào xem kiệt tác thì dễ mỏi gối chồn chân, điều này cho thấy tôi ham ăn hơn là “trí tuệ”). Nhưng cuối cùng tôi cũng kiên nhẫn chờ đến lượt mình.

Kiệt tác Sự tôn thờ Cừu Thánh của Jan Van Eyck (nguồn: Internet)
Sự tôn thờ Cừu Thánh (De Aanbidding van het Lams God) là bức tranh sơn dầu trên gỗ vẽ trên hai mươi tấm khác nhau, tấm chính diện bên dưới vẽ con cừu thánh bị giết trên bàn thờ để tế thần, những thiên thần quỳ bên cạnh. Từ bốn phía là những người cầu nguyện đến từ khắp nơi trên trái đất: những hiệp sĩ, người hành hương, trinh nữ, đức giáo hoàng, Adam và Eva, nhà tiên tri, người tu khổ hạnh, thánh tử vì đạo…

Qua gần sáu thế kỷ, kiệt tác đã trải qua nhiều thăng trầm. Vào thế kỷ XVIII, khi nước Bỉ bị chia làm hai phần: phần Hà Lan của Áo và phần Hoàng tử - giám mục Liège, hoàng đế Joseph đệ nhị của Áo cho hình ảnh Adam và Eva là thô tục và ra lệnh thay bằng bức vẽ hai người này mặc quần áo (đến nay, hình ảnh cũ đã được khôi phục trở lại đúng chỗ).

Vào thời điểm Cách mạng Pháp, quân của Napoleon lấy toàn bộ bức tranh này mang về Paris, để rồi sau đó bị quân Đức quốc xã lấy mất vào Chiến tranh thế giới thứ hai. May thay, sau những biến cố “lừng lẫy” đó, kiệt tác đã trở về chỗ cũ của nó: Nhà thờ Thánh Bavo ở Ghent, nơi chúng tôi đến thăm.

Tượng trưng cho cái chết của chúa Giê-su, bức vẽ với những đường nét tinh tế dễ làm người chiêm ngưỡng rơi vào trạng thái trầm ngâm. Những nhà nghiên cứu hội họa cho rằng cách sử dụng ánh sáng trong tranh này làm người xem có cảm giác như ánh nắng từ cửa sổ nhà thờ mãi mãi rọi vào 284 hình người trong tranh, dù đó là trưa hè đầy nắng hay một đêm đông.

Khi đứng trước tranh, tất cả những gì diễn ra trong thời gian ngắn ngủi ở Ghent dần hiện ra trong tôi: những cánh đồng xứ Flanders đã chứng kiến chiến tranh đẫm máu và những người lính quân Đồng minh đã ngã xuống, căn phòng với bức mural hình Đức mẹ đồng trinh, bản đồ thế giới xưa trên tường cầu thang, lâu đài của bá tước với những biến cố lịch sử đầy sợ hãi.

Trước khi đến Ghent, tôi là một người vô thần. Sau khi rời Ghent, tôi… vẫn vô thần, nhưng dường như đã có cái nhìn khác về mọi thứ, có phải vì ở Ghent có “tia sáng thiên đường cao, rọi vào ngục tim nhau”? **
____________

* atmospheric: tính từ chỉ những nơi có “không khí”, có hồn, cá tính
** Lời bài hát Chỉ chừng đó thôi của nhạc sĩ Phạm Duy

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Không còn Lochaber nữa

TTCT - Khi bước ra từ một hiệu bán đồ nội thất ở khu Muswell Hill, tôi nghe tiếng J. gọi. Tôi đến hẹn sớm, cứ tưởng còn thời gian dạo quanh trước khi vào quán cà phê, không ngờ anh cũng tới sớm như tôi.

Bức tranh Lochaber no more (1883) của John Watson Nicol, vẽ một gia đình người chăn cừu rời Lochaber di dân đến Tân thế giới
Chúng tôi gọi nước cam và trà. Cái hôn xã giao trên má ban nãy làm tôi nhận ra J. đã lâu không cạo râu, anh chẳng buồn giữ kẽ, ngáp chảy nước mắt rồi xoa cằm: “Thông cảm, hai tuần nay có ngủ nghê gì được đâu, đi mệt lại trái múi giờ”.

Tôi hỏi: “LA (*) vui không?”. “Vui nhưng mệt quá. Tôi và đứa bạn làm một việc điên khùng là lái xe từ LA tới San Francisco, chỉ ở lại đó một đêm rồi ngày hôm sau lái tiếp tới Las Vegas. Lần trước tôi cũng làm vậy, nhưng tôi quên là chuyến đó tôi 21 tuổi và có ba tháng ở Mỹ, còn chuyến này tôi 36 tuổi và chỉ có hai tuần”.

Câu nói của J. làm tôi nhớ tới buổi chiều mùa hè năm trước, mùa hè thứ hai liên tiếp ở Anh trời ít nắng, lúc nào cũng ui ui và lạnh như mùa thu. Mưa sụt sùi bên ngoài, chúng tôi ngồi trong khoang tàu về London sau một tuần làm việc. J. và tôi cùng làm marketing cho bộ phận nhi khoa của công ty nên thường xuyên đi công tác chung.

Anh nói, vẻ chậm rãi thản nhiên đặc trưng của dân Anh: “Người ta đang sưởi nắng ở bãi biển, còn ta làm quái gì trong khoang tàu lạnh cóng. Cả tuần làm việc như điên, chủ nhật này có khi tôi phải làm cho xong báo cáo nữa!”.

Tôi rầu rĩ nhắm mắt lại ráng ngủ, cũng vật vờ mươi phút. Lúc tôi mở mắt, J. đang nhìn ra cửa sổ tàu, nơi những cánh đồng mờ trong mưa. Anh nói: “Tôi muốn bỏ hết, không làm công ty nào nữa, Uyên thấy đó, tôi luôn muốn làm giáo viên dạy trẻ em tự kỷ, bị khó khăn về ngôn ngữ. Tôi sắp 36 tuổi rồi nhưng tới giờ vẫn chưa làm được điều mình muốn”.

Quán nước chúng tôi đang ngồi ở bắc London, gần lớp học kèm tiếng Đan Mạch của J.. Anh đã nghỉ hẳn ở nơi chúng tôi cùng làm, chuyển sang trụ sở toàn cầu tại Copenhagen của một công ty nói tên ra ai cũng biết. Tôi bảo: “Copenhagen nhiều cái hay lắm, hi vọng anh sẽ thích. Đồ ăn cũng ngon, chỉ phải giá cả đắt đỏ”. Rồi dường như sợ chưa đủ, tôi thêm: “Con gái ở đó xinh đẹp lắm!”. J. nói: “Vậy à, ai cũng bảo tôi vậy!”. Tôi ngạc nhiên: “Anh chưa tới đó lần nào sao?”. “Có tới một lần, phỏng vấn xong bay về luôn”.

Tôi không hỏi anh tại sao chán nước Anh lạnh lẽo lại quyết định đến một nước khác còn lạnh hơn, một nước mình không biết bất cứ điều gì về nó. Tôi không chúc mừng anh, cũng không nhắc lại mơ ước được làm giáo viên dạy trẻ em khuyết tật về ngôn ngữ. Tôi hiểu sự chán chường ở anh mà nhiều người khác không hiểu. Ai gặp J. cũng nghĩ: “Còn muốn gì nữa, bằng MBA tại một trong năm trường hàng đầu thế giới. Căn hộ ở trung tâm London trả góp sắp xong. Sống nhiều năm ở Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Pháp, sắp tới là Đan Mạch. Nói được nhiều thứ tiếng. Quản lý marketing toàn cầu của công ty lớn. Còn muốn gì nữa”.

Còn chứ. Có những thứ mà người ngoài không bao giờ biết được. Tháp Maslow cho thấy thứ tự “bậc thang” những nhu cầu của con người, thấp nhất là những nhu cầu sinh lý học: không khí, thức ăn, nước uống..., và cao nhất là nhu cầu được là chính mình. Đúng vậy, không phải mong muốn giàu có vượt bậc, càng không phải mong muốn được nổi tiếng, được quyền uy và sự kính trọng từ bên ngoài, mà chỉ là nhu cầu được làm điều mình luôn mong mỏi, điều đó người ngoài cuộc có khi cho rằng kỳ quặc, lạ đời và lên tiếng chê bai.

J. chở tôi ra trạm xe điện ngầm. Chúng tôi gần như không nói gì trên suốt quãng đường. Xe không mở radio nhưng tôi như nghe vọng lại từ đâu lời bài Lochaber no more, bài hát truyền thống Scotland buồn ray rứt.

Tạm biệt Lochaber, tạm biệt Jean của tôi
Nơi tôi đã có những ngày tươi đẹp với em
Bởi vì không còn Lochaber nữa, không còn Lochaber nữa
Ta có thể sẽ không còn về Lochaber nữa

Lochaber là một vùng hoang vu núi cao và đầm lầy phía tây bắc Scotland, bài hát như lời tạm biệt của những người rời bỏ quê hương Lochaber để đi đến những miền đất hứa.

Bên ngoài, thủ đô nước Anh giờ tan tầm đầy người xe vội vã trong nắng cuối ngày. Đường phố đông đúc không chỗ dừng, tôi tranh thủ đèn đỏ xuống đi bộ đến trạm xe điện. Trước khi đặt chân lên bậc thang dẫn xuống tầng ngầm, tôi quay lại nhìn thấy xe anh còn dừng trước đèn.

Tôi gật đầu chào J., tự nhủ một ngày nào đó khi anh thông báo đã quyết định làm thầy giáo dạy trẻ em tự kỷ, tôi sẽ chúc mừng và nói chuyện nhiều hơn, và nhất định sẽ không nghĩ tới giai điệu bài hát Lochaber no more nữa.
______________

(*) LA: Los Angeles (Mỹ)

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2009

Vách đá biển xanh Gozo

TTCT - Lý do duy nhất để chúng tôi quyết định đến Malta là vì đã quá ngán ngẩm những cơn mưa nước Anh lạnh lẽo dai dẳng, sau khi tình cờ biết được Malta là nước ấm áp nhất châu Âu với hơn 3.000 giờ nắng mỗi năm.

Có những nơi vách đá che biển lại thành một lạch nhỏ như hồ bơi
Ngày đầu tiên đến Gozo, một trong ba hòn đảo của Malta, tôi ngồi co chân lên ghế trong bếp căn hộ thuê trên đồi nhìn xuống vịnh Xlendi, ăn bánh mì “chờ thời” bởi ngoài trời mưa như trút nước.

Vịnh Xlendi trước đây là một làng chài ngái ngủ, ngày nay đã trở thành một trong những khu du lịch nổi tiếng của Malta nhưng vẫn giữ được những nét duyên dáng, mộc mạc địa phương.

Nhưng có lẽ trời không phụ lòng người, hôm sau mở mắt dậy đã thấy mặt trời lên cao. Nắng vàng óng, đúng là cái nắng Địa Trung Hải mà chúng tôi cất công đi tìm. Một trong hai bancông căn hộ chúng tôi ở mở ra biển xanh, cắt ngang bởi vách núi đá xanh rêu, sau cơn mưa hôm trước cảnh vật sáng sủa và tươi mới, không khí thoảng mùi gió biển mặn mà.

Chúng tôi bước xuống đồi, vào một quán ăn kề biển uống cà phê, ăn sáng với bánh bruschetta và thịt nguội kiểu Ý. Malta chịu ảnh hưởng đáng kể từ Ý, một phần do vị trí địa lý rất gần (chỉ cách “đảo mafia” Sicily của Ý hơn một giờ đi phà), một phần do lịch sử từng nằm dưới sự cai trị của đế chế La Mã từ trước Công nguyên. Tôn giáo chính ở đây là đạo Thiên Chúa, được thánh Paul mang đến khi ông bị đắm tàu dạt vào Malta năm 60 sau Công nguyên.

Kiến trúc và khí hậu ở đây giống miền nam nước Ý, cũng nắng gió Địa Trung Hải và đại dương xanh thẳm trải dài ngút mắt, cũng những ngõ hẻm hẹp vắng người với nhà bằng đá quét vôi vàng kem và bancông uốn lượn. Ảnh hưởng của Anh với đất nước nhỏ bé này chỉ bắt đầu vào năm 1800 khi người dân Malta nhờ đế chế Anh giúp đuổi quân Pháp của Napoleon khỏi đảo.

Tuy trở thành nước độc lập vào năm 1974 song đất nước này vẫn giữ nhiều di sản của Anh để lại, từ hiến pháp, pháp luật, những pháo đài; ngôn ngữ tiếng Anh được nói rộng rãi bên cạnh tiếng mẹ đẻ đến những thùng thư và buồng điện thoại sơn đỏ kiểu Anh, hay món xúc xích ăn với khoai tây nghiền tại các quán rượu.

Malta gồm ba đảo là Gozo, Comino và Malta. Nói đến Gozo, nơi chúng tôi đến, là nói đến những bức tường đá đầy hoa giấy, những con đường hai bên nhiều cây xương rồng mọc cạnh những thung lũng trồng bắp xanh rờn, cà chua đỏ au dưới nắng. Là lối sống chậm rãi, yên bình, hòa mình vào thiên nhiên của người địa phương. Là những vách đá cao nhìn xuống biển xanh như trong tranh vẽ của Edward Lear, nhà thơ và họa sĩ người Anh đã sững sờ khi đến Gozo vào năm 1866 và nói: “Không từ ngữ nào nói lên hết được vẻ đẹp ở đây”.

Thành lũy ở Victoria, thủ phủ đảo Gozo
Chúng tôi đã đi qua vô số vách đá sóng xô tung bọt trắng ở những ngôi làng trên đảo Gozo yên tĩnh và trầm lắng. Trên núi chạy ngang vịnh có những bậc thang lên cao, lên đó có thể nhìn toàn cảnh biển xanh màu mực rồi chuyển sang xanh ngọc lục bảo, tùy theo hướng ánh nắng và vùng nước có núi che hay không. Đi xa hơn nữa là một vịnh nhỏ như một hồ bơi, khi những bậc thang này chưa có, đây là nơi vắng vẻ đến nỗi các xơ nhà dòng hay đến tắm biển.

Chúng tôi lên xe buýt đến Victoria, thủ phủ đảo Gozo, thăm thành lũy và vào quán bên đường mua rau củ, hải sản, trái cây, rượu về nhà tự nấu. Thức ăn ở đây rất ngon và tươi, chanh vàng lớn bằng nắm tay, còn nguyên cuống lá xanh như thể vừa được hái ngoài vườn vào, vỏ sần sùi chứ không láng lẩy như chanh trồng công nghiệp, cà chua má đỏ hây hây, chia thành từng múi trông chỉ muốn ăn, bánh mì Gozo ăn giòn tan nhưng vỏ bánh không rơi lả tả khắp người. Đặc biệt rượu vang ở đây ngon và rẻ không ngờ, còn rẻ hơn rượu đế bán ở VN!

Ở Gozo có những nhà trang trại xưa cũ, lúc trước là nhà của nông dân, sau tân trang thành nơi ở cho du khách thích tìm về những giá trị truyền thống. Những nhà này đều có tường xây bằng đá tảng rất lớn, quét nhiều lớp vôi dày nhưng vẫn cảm nhận được bên dưới là lớp đá sần sùi, mái vòm cong cong mở ra khoảng sân dẫn ra biển lấp loáng nắng đến nhức mắt.

Bên ngoài một căn nhà đặc trưng Gozo
Những cánh cửa không quét dầu hay vẹcni bóng loáng mà để nguyên dạng xù xì, lúc nào cũng được mở hết cỡ để nắng gió ùa vào nhà. Nhịp sống ở Gozo không chỉ chậm hơn những nước phương Bắc mà còn chậm hơn cả đảo Malta cạnh bên. Thỉnh thoảng trên đường chúng tôi vẫn thấy những bà già ngồi dệt ren trước cửa trông chừng mấy đứa cháu chơi bi bên cạnh.

Gozo không nhộn nhịp hội hè nên được cho là nơi chỉ phù hợp với khách du lịch lớn tuổi, nhưng chúng tôi đã trải qua những ngày thật thơ thới trên hòn đảo nhỏ này. Ở đó, chúng tôi leo núi ngắm đại dương mênh mông trải dài vô tận rồi xuống tắm biển phơi nắng cả ngày...

Tranh vẽ Gozo vách đá biển xanh của Edward Lear
Rau củ quả tươi rói với bánh mì và rượu Gozo làm nên bữa ăn ngon lành
Kỳ nghỉ ở Gozo đã làm người xứ nóng ở xứ lạnh là tôi vui vẻ trở lại, ngay cả khi về lại Anh với những cơn mưa dầm dề và đồ phơi trong nhà không biết bao giờ mới khô. Những lúc đó tôi lại nhớ về vách đá biển xanh, khoảng sân đá cuội có những chiếc bình đất nung trồng đầy hoa đỏ, những cây chanh hoa trắng xóa mùa xuân và lúc lỉu trái vàng mùa hè, những buổi chiều ngồi trên bancông đợi hoàng hôn xuống...