Thứ Tư, 24 tháng 12, 2008

Lời giới thiệu - Sống xanh

TTO - Đến hôm nay, Ngô Thị Giáng Uyên đã là một tên tuổi quen thuộc với giới trẻ Việt Nam. Sau tập du ký châu Âu mang phong vị lãng mạn Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, khá đông độc giả hay nhắc nhở Uyên phải viết thêm điều gì mới chứ!

Thật sự, ý tưởng về một “môi trường xanh - thái độ sống thân thiện giữa con người với nhau” là đề tài Uyên hằng ấp ủ. Trong mail gửi cho nhóm thực hiện tập sách, Uyên luôn đau đáu một nỗi niềm trăn trở lớn: môi trường sống của Việt Nam đang xuống cấp ở mức đáng báo động. Chỉ vì lợi ích trước mắt, con người đã hủy hoại ghê gớm các tài sản vô giá do thiên nhiên ban tặng. Hạn hán, bão lũ… ngày càng xuất hiện dồn dập theo cấp số nhân, nào phải ngẫu nhiên! Bởi lẽ, rừng đầu nguồn đã bị đốn chặt không thương tiếc, đất đai xói mòn nghiêm trọng, còn đâu lá chắn phòng vệ hữu hiệu… Chỉ vì lợi nhuận béo bở, không ít người sẵn sàng làm hàng gian, hàng dỏm; sẵn sàng “đạp” lên nhau mà sống…

Lướt qua dòng đầu tiên của mỗi mẩu chuyện nho nhỏ, cảm nhận bao trùm là sự nhẹ nhõm và thú vị - những gì Uyên viết chẳng khác nào lời chia sẻ giữa những người bạn tâm giao. Này nhé, ở phần đầu Uyên đã mời gọi mọi người “Làm đám cưới nhỏ, thân mật” thôi, “thỉnh thoảng nên ăn chay”, “làm một món quà bằng tay” tặng bạn bè, lâu lâu chịu khó “đi thang bộ” - “đi xe đạp”, rồi thỉnh thoảng nhớ “đọc truyện cổ tích” hoặc “tìm đọc lại những kiệt tác văn học”… Ở đoạn khác, Uyên nhẹ nhàng nhắc nhở bạn “nói không với bọc nilông”, “hạn chế tối đa trò chơi vi tính ở trẻ con”, “đừng đua theo mốt”, “không để tivi ở chế độ standby”, “không ăn động thực vật quí hiếm”, “tận dụng nước mưa”… Lúc khác, Uyên lại động viên “không học đại học cũng không sao hết”, dặn dò bạn đừng quên “mua hàng ở những cửa hàng vì cộng đồng” và thường xuyên “tạo điều kiện cho người khuyết tật”…

Như vậy, không khó lắm để nhận ra thông điệp Uyên muốn gửi gắm đến mọi người. Đấy là lối sống giản dị, chừng mực, hài hòa với thiên nhiên, trân trọng những giá trị tinh thần, bớt lệ thuộc vào vật chất, hư danh; tẩy chay kiểu sống chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ.

Những lời chia sẻ của Uyên không mới mẻ, cao xa gì, nhưng ít ra sau khi chia tay với dòng chữ cuối cùng, chắc chắn lòng bạn sẽ vui hơn, trí sẽ sáng hơn và trên hết là bạn có dịp nhìn lại chính mình, thấu đáo được hành động dù nhỏ nhất của từng cá nhân đều ảnh hưởng đến tương lai “ngôi nhà chung - Trái đất của chúng ta”!

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2008

Seam Reap thoáng qua

Cuối năm, khi mọi người bù đầu với những kế hoạch công việc làm ăn, mua sắm, gia đình, cưới hỏi, tự nhiên tôi muốn đi đâu đó xa Sài Gòn, không biết đi đâu nhưng cứ phải đi.

Lang thang trên Internet một lúc, vào đến trang Elephantguide, tôi đọc say mê rồi không cần suy nghĩ mà quyết định luôn: Bay nhảy khắp nơi rồi mà bạn láng giềng chưa đi thăm thì đáng trách quá, đi du lịch Đông Dương thôi. Thế là ngay sáng hôm sau, cùng với một người bạn tên Quỳnh, chúng tôi bắt xe buýt đi Phnom Penh.

Từ xe đò đến xe tuk tuk

Chuyến xe đò từ Phnom Penh đến Seam Reap để thăm Angkor “thuở hồng hoang đã thấy, đã xanh ngời liêu trai” không khác mấy so với những chuyến xe đò liên tỉnh miền Tây ở Việt Nam nhiều năm trước, do chúng tôi chọn đi xe với dân địa phương chứ không theo tour của mấy văn phòng du lịch. Xe địa phương nên cũ mèm, trên nóc xe có cả vịt kêu quàng quạc còn trong xe có tivi mở cải lương Campuchia (cải lương của diễn viên Campuchia thứ thiệt chứ không phải cải lương Việt Nam lồng tiếng Campuchia).

Những ngôi nhà kiểu Khmer mái nhọn và lan can gỗ lẫn trong hoa giấy và dâm bụt đỏ
Trời tháng 12 nóng bức, những con đường đất đỏ mùa khô bụi cuốn lên mù mịt. Xe dừng lại nghỉ chân ở một nơi bán đầy bọ cạp, rết, dế nhủi chiên giòn... Mấy đứa trẻ da sạm nắng đang bưng những rổ trái cây đi bán cho khách. Để ý một bé gái mắt to và nâu, cầm những hộp mít đã bóc ra vàng ngậy, tôi mua một hộp mà còn nhớ cặp mắt của nó mở to như muốn hỏi khi nào mình mới được đi chơi như những du khách mua mít qua đường.

Xe đến Seam Reap trời đã sập tối. Bến xe vắng vẻ, buồn hiu hắt, lại cách trung tâm rất xa. Chúng tôi lên đại một chiếc tuk tuk vì anh chàng chạy xe khẳng định mình biết rành Seam Reap như trong lòng bàn tay và biết rõ cả đường đến khách sạn chúng tôi đã đặt trước.

Ngôi biệt thự sơn trắng xóa, cửa xanh da trời đậm, nổi bật trên nền sọc đỏ cam của mái che nhà hàng kế bên
Một người đàn ông trung niên người Ireland đi cùng chuyến xe buýt với chúng tôi cũng đang ngồi lên yên sau một chiếc xe máy, vẫy tay: “Các cô, tôi đi đây. Hẹn gặp lại!” (nói giỡn chơi vậy mà thành thiệt, vì hai ngày sau chúng tôi tình cờ gặp nhau ở Angkor). Đường miền quê gồ ghề, còn chiếc xe chạy hết tốc độ, rung xồng xộc, gió thổi vù vù quanh tai, tôi hét át tiếng gió và máy xe “Chạy chậm lại giùm!”, nhưng anh lái xe không nghe thấy hay giả điếc mà mặt lạnh như tiền cứ chạy rầm rầm.

Trước khi tôi đi Campuchia, ai cũng khuyên đặt tour cho chắc, đừng tự đi một mình vì nguy hiểm và còn hù “dân ở đó ghét người Việt lắm”, tôi bỏ ngoài tai, bởi “Người ta đi hà rầm có sao đâu. Ta là dân du lịch chuyên nghiệp mà, khéo lo”. Nhưng lúc đó tôi sợ thật sự. Đường vắng tanh vắng ngắt không bóng người hay bóng điện, cây cối vẽ lên nền trời đêm những nét dọa dẫm. Nhìn quanh, tự nhiên tôi rợn xương sống. Có khi nào gã lái tuk tuk chở mình vào chỗ buôn người hay nhốt lại đòi tiền chuộc?

Seam Reap: Chợ, món ăn địa phương và phố xá

Chỉ khi đến được khách sạn nhận phòng rồi, tôi mới thở phào nhẹ nhõm rủ Quỳnh ra ngoài phố ăn tối. Không tới khu phố Tây ba lô hội hè, chúng tôi tới một chợ nhỏ đầu đường, thắp đèn hột vịt lù mù. Chợ bàn ghế thấp lè tè trải khăn nhựa in hoa sặc sỡ, bán xôi đậu đen, gà luộc, trứng gà nướng, phá lấu, cơm ống tre, chè, nước mía… Có một xe bán gân, sách bò chấm mắm gừng với nhiều rau ăn kèm thật hấp dẫn.

Cô gái bán hàng rất dễ thương da ngăm và gương mặt đặc trưng của người Khmer lấy chuối chát, khế chua, dưa leo, cà pháo, xắt bằng tay dẻo như múa, rồi sắp vào đĩa gân sách bò kèm thêm ít rau xanh làm thành hai đĩa. Chúng tôi ăn ngon lành vì đói. Mắm gừng có ớt hiểm cay xé lưỡi, gân, sách bò miếng mềm, miếng giòn sần sật mặn mà, cà pháo giòn tan, dưa leo mát rượi, quyện với chuối và khế thật ngon lành.

Seam Reap hoàn toàn có thể trở thành một điểm du lịch hấp dẫn ngay cả khi không có Angkor. Khu phố gần chợ Psar Chaa (chợ lớn ở trung tâm) có nhiều ngôi biệt thự kiểu Pháp xưa và những dãy nhà kiến trúc kết hợp Pháp - Khmer lạ mắt xinh đẹp. Nhà cửa ở đây được sơn nhiều màu sặc sỡ nhưng không quá lòe loẹt, hài hòa với khung cảnh xung quanh.

Nhà hàng Terrasse des Élephants với màn cửa mỏng trắng muốt và những chiếc quạt trần sẫm màu kiểu thuộc địa, lười biếng quay
Từ nơi chúng tôi ở bước ra khu phố chính, ngay ngã tư là ngôi biệt thự màu vàng bơ với ban công và mái vòm trắng nép mình dưới tán dừa, cọ xanh um. Đây là quán cà phê và nhà hàng Terrasse des Élephants, với màn cửa mỏng trắng muốt và những chiếc quạt trần sẫm màu kiểu thuộc địa đang lười biếng quay.

Băng qua Terrasse des Élephants khoảng vài chục mét là một dãy những nhà hàng muôn màu, kê bàn ghế mây ra ngoài hè phố, bên những chậu trồng tre cảnh xào xạc. Nhà kiểu Khmer ở Seam Reap rất chuộng những gam màu nóng như đỏ, vàng, cam với nhiều sắc độ, làm nổi bật những chiếc đèn khổng lồ hình ống bằng vải trắng treo trên tường.

Nhà kiểu Khmer ở Seam Reap rất chuộng những gam màu nóng: đỏ, vàng, cam…
Vì nắng nóng quanh năm nên những ngôi nhà ở đây đều che mái vòm phía trước có màu hòa hợp với nước sơn tường và bàn ghế kê xung quanh. Chúng tôi để ý tới một ngôi nhà sơn vàng cửa chớp và thông gió xanh lá cây đậm, mái vòm che cũng cùng màu vàng tỏa rợp khoảng sân xanh um cây lá. Nếu không có những chiếc quạt máy treo trên tường làm ta nghĩ ngay đến một nước nhiệt đới, rất có thể ai đó nhầm đây là một nhà hàng trên phố xá Paris. Cả ngôi biệt thự sơn trắng xóa cửa xanh da trời đậm nổi bật trên nền sọc đỏ cam của mái che nhà hàng cạnh đó cũng vậy.

Nếu không có những chiếc quạt máy treo trên tường, rất có thể nhầm ngôi nhà sơn vàng cửa chớp và thông gió xanh lá cây đậm này là một nhà hàng trên phố xá Paris
Sau một ngày thăm Angkor mỏi rời chân, chúng tôi ăn tối trên căn gác xép của một quán ăn Khmer có cái tên khá ngộ Le Tigre de Papier (Cọp giấy). Nơi chúng tôi ngồi trông sang nhà hàng Temple Club một điển hình của kiến trúc Pháp kết hợp Campuchia với những mái hình tam giác, tay vịn ban công thấp và thuôn thuôn. Những bóng đèn bọc vải trắng treo đầy trên trần thấp tỏa ánh vàng và ban nhạc người địa phương đang chơi những bài hát truyền thống vui nhộn phục vụ thực khách làm không khí vui vẻ hẳn lên.

Sau bữa ăn tối, chúng tôi sang quán bar cách đó vài căn vì bị ấn tượng bởi chùm đèn treo xinh xắn. Chùm đèn lớn tỏa ánh vàng ấm áp xuống quầy bar làm tôi mơ màng nghĩ đến những kỳ nghỉ xa xôi tận xứ Scandinavia vì trông rất giống kiểu trang trí của Phần Lan hay Thụy Điển.

Cái tên Seam Reap theo tiếng địa phương có nghĩa là chiến thắng quân Xiêm nhưng đã có thời gian, từ năm 1794 đến năm 1907, cả Seam Reap và hệ thống đền đài Angkor bị Thái Lan chinh phục và nắm giữ. Khi những người Pháp đầu tiên khám phá ra Angkor hoành tráng, Seam Reap chỉ là một ngôi làng nhỏ “ngái ngủ” không hơn không kém và chỉ thật sự mở mắt (và mở cửa) đón khách du lịch quốc tế từ khi Pháp giành quyền nắm giữ Angkor từ tay Thái Lan vào những năm đầu thế kỷ XX.

Sáng hôm sau, tôi dành thời gian quay trở lại khu phố gần chợ Psar Chaa, ngắm dãy nhà vuông vắn sơn màu pastel (pha sơn trắng với các loại sơn khác nhau cho dịu mắt) như trong những làng chài Địa Trung Hải. Đáng tiếc là những ngôi nhà tầng trệt để làm cửa hiệu, tầng trên để ở ấy hơi lộn xộn, bảng quảng cáo treo cả bên trên lẫn bên dưới.

Dãy nhà vuông vắn sơn màu pastel như trong những làng chài Địa Trung Hải
Thời gian còn lại trong ngày chúng tôi tản bộ trên những con đường dọc theo hồ Tonle Sap, ngắm những ngôi nhà kiểu Khmer mái nhọn và lan can gỗ lẫn trong hoa giấy và dâm bụt đỏ. Đi một đoạn, chúng tôi bắt gặp FCC (Foreign Correspondents’ Club), cụm khách sạn - nhà hàng - quán bar sang trọng và tinh tế, trước là dinh của đại sứ Pháp thời thuộc địa, sơn trắng nổi bật giữa cây cối xào xạc um tùm.

FCC, cụm khách sạn-nhà hàng-quán bar sang trọng và tinh tế, sơn trắng nổi bật giữa cây cối xào xạc um tùm
Đối diện hồ là một chỗ ngồi tĩnh lặng với ghế mây đen và cụm chuối cảnh xanh mướt, hoa nắng vàng lọc qua những tàn lá cây to trên đầu rớt lốm đốm xuống thềm.

Chỗ ngồi tĩnh lặng ở FCC với ghế mây đen và cụm chuối cảnh xanh mướt, hoa nắng vàng lọc qua những tàn lá cây to trên đầu rớt lốm đốm xuống thềm
Ai cũng nói nếu Seam Reap không có Angkor Wat, Angkor Thom sẽ không có gì hấp dẫn và chẳng có lý do gì để ghé thăm. Chúng tôi đến Campuchia với mục đích chính để đi thăm Angkor, vì vậy thật thú vị khi khám phá ra xứ sở nhỏ bé này có nhiều điều cuốn hút khác nữa.

Nếu lỡ sau này Angkor có biến mất khỏi Seam Reap, tôi sẽ vẫn trở lại thăm nước láng giềng này (có khi lúc đó tôi sẽ là triệu phú như lời ông thầy bói Campuchia đã nói như đinh đóng cột với tôi; ông ngồi giữa khu đền cổ đá rêu phong mờ mờ tối khu Bayon, lại có bóng nắng hắt vô nhìn khá “thiêng liêng” nên hy vọng… trúng). Lúc đó, chắc chỉ còn mỗi mình tôi là du khách vì ai cũng nghĩ “Seam Reap không có Angkor, có gì hay đâu?”.

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2008

Hãy cùng sống “xanh”

TT - Sống xanh (Tủ sách Tuổi Trẻ và NXB Trẻ) không bay bổng, lãng mạn, mượt mà và giàu màu sắc như Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, nhưng vẫn rất đậm một phong cách sẽ khiến người đọc nhận ra Ngô Thị Giáng Uyên: chi chút, dí dỏm, sẵn lòng chia sẻ những kinh nghiệm, háo hức với các sắc thái văn hóa, ngập lòng một tình yêu thiên nhiên và đau đáu những biện pháp bảo vệ môi trường.


Nhẹ nhàng, tự nhiên như đang tiếp tục một cuộc nói chuyện với bạn bè, Uyên nhắc “tivi ở chế độ stand-by tốn 80% điện so với tivi đang mở đó”, “tắt vòi nước khi đánh răng sẽ tiết kiệm được 9 lít nước trong một phút”, “in giấy hai mặt, bạn sẽ giúp một cái cây không bị chặt”, “để máy giặt - sấy ở 30oC, bạn sẽ đốt được một lượng CO2 đáng kể”… Và tha thiết hơn: “Hãy nhớ những gì bạn tiết kiệm là cho universe, cho cả vũ trụ, thế giới này”.

Và không chỉ chăm chăm đến môi trường, Uyên còn dùng tất cả những kinh nghiệm mình đã tích lũy được để chỉ cho người đọc những cơ hội tận hưởng cuộc sống dễ bị bỏ qua: những khoảnh khắc tuyệt vời được đắm mình trong sắc trời, hương cỏ thay vì chăm chắm nhìn qua ống kính máy ảnh trên đường du lịch, một món quà nhỏ bất ngờ không chờ một dịp lễ nào, một vài giờ thảnh thơi thỉnh thoảng tự thưởng cho mình, không làm gì để tái tạo khả năng nhận biết hạnh phúc…

Lướt qua những câu chuyện nhỏ dễ nhớ, những hình ảnh hài hước trong Sống xanh sẽ thấy đời xanh thêm một chút. Và sẽ còn xanh thêm nữa khi bạn mang những nhắn gửi của Giáng Uyên vào cuộc sống của mình.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2007

Nhà mình ở Southampton

TTO - Thấy tôi đem khoe những bài báo về nước Anh của mình, cô bạn cùng nhà Janette hỏi chừng nào mới có bài về Southampton đây. Đến lúc đó tôi mới nhận ra chưa bao giờ có ý định sẽ viết bài về thành phố cảng miền Nam tươi đẹp này, có lẽ vì tôi chỉ viết những cảm xúc về những vùng đất đã đi qua, còn nơi mình ở lại lãng quên không nghĩ đến.

Tôi chọn Đại học Southampton một phần nhờ Paul, anh bạn người Anh làm việc ở Sài Gòn. Học bổng Chevening của tôi cho phép được học ở bất cứ trường đại học nào ở Vương quốc Anh miễn trường đó nhận tôi vào, nên suốt mấy tháng ròng rã tôi hí hoáy tải thông tin từ Internet về, nhận brochure của các trường, rồi vẽ biểu đồ so sánh.

Ở Việt Nam mười người như một ai cũng bảo tôi đi học ở London cho “sang”, chỉ mỗi mình Paul cương quyết lắc đầu: “Nếu muốn học cùng trường với toàn sinh viên quốc tế, nhất là Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… thì đi London. Còn nếu muốn học trong một môi trường nhiều sinh viên bản xứ, Uyên phải đi thành phố khác. Người Anh, ngay cả dân London bản địa rất ít ai học ở London vì chi phí sinh hoạt đắt đỏ, họ chỉ học chỗ khác rồi quay về London làm việc thôi”. Cuối cùng, sau một tháng cân nhắc giữa những lựa chọn khác nhau vì tôi được khá nhiều trường đồng ý nhận vào, cả hai chúng tôi hào hứng quyết định: “Southampton it is!”

Cuối tháng 9 khóa học MBA mới bắt đầu nhưng tôi phải đến sớm tìm chỗ ở, sau đó tranh thủ đi du lịch một số nơi ở Anh và về lại để ổn định cuộc sống trước khi nhập học. Tôi đến Southampton một mình vào một buổi trưa đầu thu đầy nắng, sau hai ngày lang thang đã tìm được một căn hộ nhỏ bốn phòng ngủ rất tốt đối diện công viên, giá cả vừa phải, chung với ba bạn mới Paddy người Ailen, Janette và Alastair người Anh.

Nếu ở Sài Gòn bạn ở trong một ngôi nhà như nhà tôi ở quận Tân Phú, đối diện tiệm lẩu dê, bên phải quán cà phê, bên trái tiệm bida, xéo góc chỗ chơi thú nhún của con nít, thỉnh thoảng lại có một xe bán keo dính chuột của trung tâm ứng dụng công nghệ hóa màu đi ngang qua rao ra rả, bạn mới biết tôi quý không gian yên tĩnh đến mức nào. Công viên đối diện nhà chúng tôi xanh mướt cỏ và có rất nhiều cây lớn tỏa bóng xuống những băng ghế gỗ sần sùi. Đây là nơi nhận thấy bốn mùa đi qua rõ rệt nhất. Lúc chúng tôi mới dọn vào lá trên cây mới bắt đầu ngả vàng lốm đốm, nhưng chỉ tháng sau mùa thu đã dát vàng những vòm cây, lá thu cũng rụng trên mỗi bước chân qua, tôi thích bước vào hất lá khô dưới đất nghe xao xác. Có loại cây lá nhỏ và tròn mỏng mảnh, khi thu về lá vàng mướt như hoa trên cành và rắc đầy lối đi. Cảnh vật giống hệt trong bức tranh “Mùa thu vàng”, với những hàng cây lá vàng ươm như vừa được phết một lớp sơn mới, nhất là khi chúng tôi “bỏ phố về rừng” đi lang thang vùng New Forest cách nhà vài dặm. Mùa đông, mới ba giờ chiều trời đã tối mịt, cây trụi lá vươn những cành khẳng khiu lên nền trời xám nặng trĩu đặc trưng mùa đông nước Anh. Buổi sáng thức dậy, dù trong nhà có máy sưởi vẫn thấy sương giá phủ trắng mờ ô cửa kính, con đường chúng tôi đi học sương muối đọng đầy trên cỏ như ngăn đá tủ lạnh bị đông tuyết. May mà có những cây thường xanh (evergreen), loài cây luôn xanh ngắt suốt bốn mùa như cây holy lá xanh răng cưa quả tròn đỏ thắm đến dịp Noel lại được làm thành những vòng hoa trang trí trước cửa nhà, nếu không có lẽ không gian sẽ ảm đạm biết bao! Năm tôi ở, Southampton có tuyết muộn, đến cuối tháng ba trời mới đổ tuyết khắp nơi, tôi vẫn vừa nghe headphone vừa đi bộ một mình qua những con đường tuyết lạo xạo dưới chân, áo choàng rộng và dày, mang găng dày cộm, mũ trùm kín tai lẻ loi qua những con phố buổi tối vắng người, có hôm radio nói về vụ án mới nhất với một kẻ tâm thần bức bối vì mùa đông dài nặng trĩu đã nổi cơn điên giết một cô gái không quen biết cũng đi bộ một mình từ trường về nhà, tôi nghe mà sợ rúm ró nhưng biết làm sao được. Còn mùa xuân, tôi yêu nhất mùa xuân châu Âu, khi những búp non bắt đầu nhú trên cành và tất cả những loài hoa ngủ yên qua những ngày dài lạnh lẽo bắt đầu nở khắp lối đi, buổi sáng tôi mở cửa lòng phơi phới, hát nghêu ngao bài “Hoa trên cửa sổ” của Travis: “Look at you now, flowers in the window it’s such a lovely day, and I’m glad you feel the same”. Đến nước Anh tôi mới phân biệt được sự khác nhau giữa blossom - hoa nhỏ li ti nở bung trắng xóa hay hồng phấn khắp vòm cây lớn, những hoa mơ, hoa mận, hoa táo rồi sẽ đậu trái vào mùa sau - với flowers - hoa mọc trên cây nhỏ hoặc cành mảnh khảnh, nở rồi tàn phai. Mùa hè, 11g khuya mặt trời mới lặn, loáng đã hết đêm, một màu xanh mát mắt trải khắp nơi. Cây táo nhà gần trường tôi học, những hoa táo trắng mùa xuân giờ thành trái đỏ ối khắp cành và rụng lăn lóc cả trên đường đi, táo chín rụng vỡ ra tỏa mùi hương ngọt mát dễ chịu.

Có lẽ tôi nên nói đôi điều về những người bạn tôi ở chung ngôi nhà đường St. James đối diện công viên nhỏ ấy. Cô gái Janette bằng tuổi tôi, sống rất chỉn chu ngăn nắp, mọi thứ đều phải sắp đặt theo một trật tự cố định và sạch như li như lau, trong khi hai anh chàng Patrick và Alastair (tên thường gọi là Paddy và Aly) lớn hơn chúng tôi hai tuổi thì luộm thuộm đúng kiểu con trai. Tôi không được như Janette nhưng cũng không đến nỗi như hai anh kia nên thường đứng giữa để can những vụ nhăn nhó vì các khu chung như nhà bếp, phòng khách, nhà tắm… Nhưng chúng tôi rất thân nhau, nhất là những lúc cùng mua đồ về nướng barbeque ở khoảng sân sau, ra cảng hít thở gió biển lồng lộng, ngắm những con tàu neo đậu (Southampton cũng là nơi con tàu Titanic bạc mệnh đã nhổ neo đi New York), hay kéo nhau ra quán bia coi đá banh, có lẽ bạn không tin nổi khi biết được ở Anh không truyền hình trực tiếp giải bóng đá ngoại hạng Anh như ở Việt Nam, chỉ có truyền hình cáp mới xem được. Sẵn nói chuyện TV, chúng tôi có một câu chuyện rất vui về TV license, chả là ở quốc gia có tên gọi “nước Anh chém đẹp” (rip-off Britain) này, muốn xem TV bạn phải mua giấy phép 131 bảng, khoảng gần bốn triệu đồng, một số tiền khá lớn đối với sinh viên nên sau một hồi bàn bạc chúng tôi quyết định sẽ… xem chui, không đóng phí, cuối cùng mọi người đề nghị nếu có ai dáng vẻ “khả nghi” bấm chuông gọi cửa, tôi sẽ được phân công ra gặp và… giả bộ không biết tiếng Anh. Cả ba còn luyện tôi cách nói lắp bắp cho dễ tin nhất. Không may cho chúng tôi, được hơn một tháng có người đến - chỉ mỗi mình Paddy ở nhà, bộ dạng của anh chàng này rặt Ailen như cái tên Paddy của anh nên không thể giả đò không biết tiếng Anh được. Cũng may, ông kia thông cảm sinh viên (có lẽ những trường hợp này ông gặp hoài) nên chỉ bắt đóng đúng số tiền giấy phép 131 bảng chứ không phạt, nếu không cả bốn đứa có nước nhịn đói uống nước lã cầm hơi suốt một tuần.

Chủ nhà của chúng tôi cũng người Ailen, một bác sĩ đứng tuổi làm việc ở Bệnh viện Southampton. Nhưng củng giống như hầu hết các mối quan hệ sinh viên - chủ nhà khác, chúng tôi không khoái ông lắm. Tuy không ở chung nhà nhưng thỉnh thoảng ông lại đảo về ngó nghiêng, chê chúng tôi ở dơ để lá rụng đầy sân không quét, hay cằn nhằn tại sao chén chưa rửa để trong bồn, tại sao sách để lộn xộn đầy phòng khách. Aly và Paddy rất hay nhại ông cách nói lặp đi lặp lại mãi cùng một ý như thể người nghe không hiểu gì (tất nhiên không phải nhại trước mặt ông). Nhưng dù sao chúng tôi đều biết ơn ông đã cho chỗ ở tốt và cho chúng tôi gặp gỡ nhau.

Ở nhà, Janette thân với Paddy, còn tôi hay chơi chung với Aly, cũng là bạn thân nhất của tôi ở Anh trong suốt thời gian theo học. Lúc mới gặp, anh đòi nghe tôi hát tiếng Việt, ngay lập tức tôi ngửa cổ hát rất “hoành tráng” “Anh yêu em anh yêu em như rừng yêu thú dữ…” làm anh chàng há hốc miệng đứng nhìn, mãi sau này mới nói lúc đó rất bất ngờ vì cứ tưởng con gái Việt Nam ai cũng hiền lành nhút nhát. Ở chung nhà, anh hứa sẽ biến giọng tôi thành giọng một cô gái miền Nam nước Anh chính cống và bây giờ tôi được nhiều người khen nói giọng Anh kiểu British English cũng nhờ Aly. Khi tôi về lại Việt Nam, anh chàng nổi hứng tự mua sách về học tiếng Việt, mỗi lần đọc mail anh tiếng Anh xen tiếng Việt ngây ngô tôi lại cười lăn cười bò. Chẳng hạn “at the moment in the UK it’s the mùa mưa bão. Tôi có thể mua cái ô ở đâu?”, hay “Next February when I’m in Vietnam, I’ll have a xoa bóp everyday”. Ở Anh có chức danh Lord rất cao, trên cả chức Sir, những ai có được địa vị do nữ hoàng phong tặng này đều không gọi bằng tên thông thường mà gắn với một địa danh người đó sinh ra hoặc sống phần lớn thời gian, chẳng hạn Lord Lavene of Portsoken, hay Lord Griffiths of Fforestfach. Còn Aly tự xưng mình là… Lord Alastair of Cao Bằng, sau này hỏi ra mới biết anh chàng giở bản đồ Việt Nam ra thấy tên Cao Bằng cũng hay hay nên chọn luôn. Còn mỗi lần tôi nổi điên với anh (khá thường xuyên, vì như tôi đã nói anh chàng rất luộm thuộm), anh lại giả lả nói tiếng Việt “em đẹp lắm” làm tôi phì cười, muốn giận cũng không được.

Tôi quý Aly nhất kể từ khi tôi bị quai bị vào kỳ nghỉ phục sinh tháng tư (cả đời tôi chưa thấy ai hăm mấy tuổi còn bị bệnh này, nhưng tôi bị thật). Đáng lẽ hôm đó tôi đi Bỉ và Hà Lan với Thiêm nhưng người mệt mỏi không nhấc chân nổi, tội nghiệp Thiêm phải lủi thủi đi xe buýt mười tiếng đồng hồ từ London đến Brussels một mình. Đêm đó tôi sốt cao không biết bao nhiêu độ đòi đi bệnh viện nhưng anh bảo sốt chút ít chắc không đến nỗi nào, tôi nằm khóc lóc thảm thiết và dọa nếu chuyến này có chết sẽ hiện về bóp cổ. Nhưng khuya đến, mấy lần giật mình dậy vì sốt tôi lại thấy Aly ngồi cạnh giường, loay hoay lấy khăn ướt đắp lên trán cho tôi. Tôi biết ơn anh đã chăm sóc, giặt giũ nấu súp cho tôi những ngày quai bị hành tôi ôm mặt hết nạt nộ đến rên la, và biết được đúng ý nghĩa câu bạn bè trong khó khăn hoạn nạn mới thật là bạn.

Nhắc đến Southampton, tôi phải nhắc đến David, nhỏ hơn tôi bốn tuổi đang học Đại học Warwick vì cậu là một trong những người hiếm hoi từ xa đến chơi ở lại nhà tôi. Tôi quen David trong chương trình “Những người trẻ tuổi làm thay đổi thế giới” ở xứ Wales hai năm trước. Tuy anh chàng cao to đẹp trai nhưng tính tình hệt con nít, biết tôi viết báo cứ bảo bài nào của tôi nhắc tới hay có hình cậu thì cho một tờ để lồng kính treo lên. David trước đây là thành viên Nghị viện trẻ của Anh (UKYP), đã từng được đặt câu hỏi cho Thủ tướng Anh Tony Blair và hiện làm việc cho tổ chức “Con người và hành tinh”. Nhưng tôi thích cậu không phải vì những thành tích đạt được mà vì anh chàng ăn chay trường này thật sự quan tâm đến những vấn đề của thế giới như môi trường, đói nghèo, chiến tranh… Tôi hẹn với David sẽ đến ký túc xá Trường Warwick hoặc nhà bố mẹ cậu chơi hoài mà không được. Đến khi tôi sắp về Việt Nam, cậu vẫn còn gọi điện nhắc chừng nào mới ghé nhà chơi được đây.

Tôi yêu căn phòng nhỏ của tôi, có cửa sổ trông xuống khoảng sân phơi quần áo sau nhà, mỗi lần thấy Aly loay hoay đứng phơi đồ bên dưới tôi lại ôm gấu Yeovil ra giả giọng con nít kêu “ba ơi ba”. Tôi nhắc đến chú gấu bông màu vàng Yeovil. Đấy là chú gấu của đài BBC dành cho chương trình “BBC Children in need”, ủng hộ trẻ em nghèo ở các nước đang phát triển, mà tôi mua được trong một shop từ thiện ở Southampton. Tên nguyên bản đài BBC đặt cho chú là Pudsey, nhưng Aly và tôi gọi là Yeovil vì thích cái tên ngộ nghĩnh này. Chú là đồ chơi thân thiết nhất tôi từng có, đã từng theo tôi đi nhiều nước khác nhau. Mỗi lần có chuyện buồn tôi dễ vui trở lại khi nhìn dáng ngồi tự tin của Yeovil với hai chân giang ra, tay đặt lên đùi, miệng cười tủm tỉm, mắt lại băng một dải băng trắng có chấm bi đỏ kiểu cướp biển thật nghịch ngợm. (Khi tôi mang chú về Việt Nam, đứa cháu ba tuổi của tôi thấy Yeovil băng mắt hay cầm lên hỏi “Em bị sao vậy? Em bé ơi!”). Aly thấy tôi thích ăn chanh nhưng tiết kiệm không mua, nên thỉnh thoảng anh lại mua về để Yeovil ôm chanh trong lòng, rồi đặt chú ngồi trên giường trong phòng tôi. Anh hi vọng điều đó làm tôi bất ngờ cười thích thú khi đẩy cửa bước vào. Tôi không thể tưởng tượng nổi nếu lỡ làm mất Yeovil mình sẽ buồn đến mức nào. Có lẽ cũng như Tom Hanks trong phim Cast away khóc nức nở khi làm trôi mất bạn Wilson - quả bóng tròn ông vẽ mặt người lên chơi cùng trong những ngày một mình trên hoang đảo. Sau này, muốn mua bao nhiêu quả bóng giống hệt Wilson hay gấu giống hệt Yeovil cũng có, nhưng cái hồn của đồ chơi thân thiết gắn bó nhiều kỷ niệm, không thể nào thay đổi được.

Những ngày ở châu Âu, dù có rong ruổi ở những thành phố đẹp nhất hành tinh, tôi vẫn sung sướng ngày về được ngả người xuống giường mình trong căn phòng ấm áp sau chuyến đi dài mỏi mệt, mở TV xem những chương trình yêu thích (một trong những niềm vui lớn nhất của tôi khi sống ở Anh là thoát khỏi những bộ phim Hàn Quốc léo nhéo trên các kênh truyền hình) rồi lim dim ngủ. Ở đây một thời gian, vào những đêm thức khuya viết bài cho khóa học ở trường, thỉnh thoảng tôi lại nghe những chuỗi tiếng ho khan trong đêm tối. Sau mới biết của những kẻ lang thang nằm phía sau lưng nhà chúng tôi, những kẻ digan nay đây mai đó ngủ màn trời chiếu đất trong giá lạnh. Thế mới biết ngay cả trong lòng một nước tư bản phát triển vẫn tồn tại những thân phận hèn mọn đáng thương. Các bạn cùng nhà tôi nhăn mặt “tại họ, việc học được chính phủ tài trợ cả nhưng lười biếng không muốn học hành, không muốn lao động, cũng không muốn vào ở trong shelter (*) thì phải chịu thôi. Bọn này lừa đảo lươn lẹo lắm, có gặp ngoài đường Uyên phải cẩn thận”. Tôi không biết họ lừa đảo lươn lẹo đến mức nào, nhưng cứ giữa khuya học bài nghe những tiếng ho ngoài trời giá buốt lại thấy lòng xốn xang thương cảm.

Hết tháng sáu, chúng tôi kết thúc khóa học ở trường và bắt tay vào viết luận văn. Hợp đồng nhà cũng hết nhưng chúng tôi không ở lại vì ông bác sĩ Ailen không giảm giá mùa hè, trong khi ở những nơi khác giá giảm đáng kể do sinh viên bản xứ về hết. Đáng lẽ Aly cũng về nhà ba mẹ anh, nhưng vì muốn ở lại với tôi nên cả hai chúng tôi dọn qua chỗ ở mới trên đường Atherley, phòng rộng hơn nhiều và giá thuê hè giảm gần một nửa. Ông chủ nhà gốc Ấn Độ cũng hiền lành dễ tính hơn. Nhà rất lớn nhưng mùa hè những sinh viên thuê đã đi khỏi chỉ còn hai đứa tôi mới dọn qua và Nick, một anh chàng người Ấn cao lêu đêu nấu ăn rất chuyên nghiệp, thỉnh thoảng thấy tôi bận rộn anh lại tình nguyện nấu cho tôi cơm cà ri thật ngon.

Thời gian sống ở đây, tôi có việc làm Marketing Manager cho một công ty tư nhân nhỏ của Anh, lại tiết kiệm được tiền thuê nhà nên cuộc sống “sung túc” hẳn. Tôi ít đi siêu thị TESCO hơn vì ý thức được hệ thống khổng lồ của TESCO đã làm rất nhiều cửa hàng nhỏ phá sản, còn thức ăn ở đó nhiều thứ không được sản xuất theo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường tối ưu. Thay vào đó, tôi siêng đi chợ nhỏ dù giá có đắt hơn, mua hải sản từ hàng cá của một người phụ nữ mập mạp vui tính luôn chỉ dẫn cách nấu tường tận, rau củ trái cây từ những sạp trong chợ của nông dân, thịt từ hàng thịt tươi cạnh đó, và đồ ăn Việt Nam từ shop nhỏ của một gia đình Việt kiều vui vẻ. Tôi cũng ngưng hẳn không mua sữa siêu thị mà đặt người giao sữa. Sữa giao tận nhà trong chai thủy tinh cũng là một trong những thứ tôi nhớ nhất sau khi về lại Việt Nam. Ông chủ nhà tôi đã lớn tuổi, có ba nhà lớn cho thuê nhưng vẫn làm nghề giao sữa, có lẽ ông còn làm vì quen và nhớ nghề hơn lý do kinh tế. Thật thích thú khi sáng sớm nửa thức nửa ngủ vùi đầu vào chăn, nghe tiếng lanh canh của chai sữa chạm vào nhau khi người giao sữa đến trước nhà. Và không gì bằng những ngày cuối tuần ngủ nướng đến trưa, bước ra cửa thấy hai chai mập mạp bầu bĩnh bằng thủy tinh trong suốt, thấy màu trắng sữa bên trong, hơi nước lạnh toát lẫn sương bám li ti. Lũ chim chóc ở Anh rất tinh quái, theo thời gian, chúng biết được chai sữa bọc lớp giấy bạc màu trắng là chai đựng sữa nguyên kem (full cream) và chỉ mổ nắp chai uống trộm loại này thôi. Những chai bọc giấy bạc màu đỏ và xanh đựng sữa ít béo (skimmed hoặc semi-skimmed) chúng không buồn đụng đến.

Không biết có phải tại cảm giác hay không mà sữa giao trong chai tôi thấy ngon, béo ngậy và thơm hơn trong hộp nhựa siêu thị. Sau này tôi mới được biết nghề giao sữa đã gần như phá sản tại Anh do ở siêu thị bán rẻ hơn. Sữa là mặt hàng chính yếu nên chỉ cần đắt hơn vài xu một lít người ta cũng sẽ không chọn. Những công ty giao sữa tìm cách giao thêm nước cam, bánh mì…, song vẫn không giải quyết được vấn đề. Tôi cầu mong nghề giao sữa ở Anh đừng bao giờ bị mất đi, để ngày nào đó trở lại đất nước thân thiết này tôi sẽ còn nghe tiếng kêu lanh canh của những chai thủy tinh khi còn ngái ngủ rồi xách hai chai nhảy chân sáo xuống bếp pha trà với sữa uống buổi sáng. (Ngoài việc luyện tôi nói tiếng Anh chuẩn giọng Anh, Aly còn truyền cho tôi thói quen đúng kiểu Ăng-lê: uống trà mỗi ngày ít nhất ba lần, riết thành quen nếu không có lại bứt rứt khó chịu)

Công việc của tôi ở công ty nhỏ nọ làm từ xa, nghĩa là không phải đến văn phòng mà chỉ cần làm việc với đồng nghiệp qua điện thoại và Internet, nhưng đòi hỏi phải đi công tác nhiều. Nhờ làm ở đây, tôi đi được Bristol, Coventry, Bath ở Anh, Edinburgh và những vùng ven ở Scotland, và nhiều nhất là Wilmslow, một khu rất sang trọng gần Manchester nơi sếp tôi ở. Lần duy nhất tôi từ Wilmslow về bằng xe lửa những ngày London mới bị khủng bố, chuyến tàu của tôi sắp đến Birmingham thì được thông báo có dấu hiệu đặt bom ở tuyến gần sân bay nên tàu phải đi đường vòng, không qua ga đó nữa. Khi những ai đi sân bay Birmingham đã ngao ngán xách hành lý nặng trịch lục tục xuống xe buýt đi được một lúc mới có thông báo không có chuyện gì hết, những người ở lại trên tàu chỉ biết thở dài tội nghiệp cho “người ra đi”, có khi còn lỡ cả chuyến bay không chừng.

Tôi không đi tàu nữa mà chuyển sang bay, tôi thích những chuyến bay nội địa ở chỗ check-in rất dễ, chỉ cần đưa thẻ ngân hàng có tên mình vào máy từ và nhập số hiệu chuyến bay để nhận thẻ lên máy bay, không cần chứng minh thư hay hộ chiếu gì hết. Thẻ ngân hàng chẳng có ảnh, chỉ có tên tôi là Ms U Ngo, trong khi tên trên vé là Ngô Thị Giáng Uyên cũng chẳng sao. Những chuyến đi Manchester sáng đi chiều về ấy tôi cũng gặp rất nhiều người đi công tác giống tôi, mặc đồ vét xách laptop rất chuyên nghiệp, đúng cả hai chuyến đi và về chung với tôi như hẹn trước, khi nhận ra nhau chúng tôi nháy mắt thay câu chào. Đáng nhớ nhất là chuyến Southampton - Manchester của Hãng British Airways (BA) vào khoảng tháng tám, một chuyến bay hi hữu gộp lại tất cả những hành khách của ba tuyến Southampton-Manchester của BA, Southampton - Liverpool của BA, và Southampton -Manchester của Hãng Flybe. Ông hành khách ngồi gần tôi ngán ngẩm cho biết ông muốn đi Liverpool có việc gấp, ra khỏi nhà từ 2g chiều nhưng ngồi chờ mòn mỏi mấy tiếng ở sân bay. Mãi 10g tối họa may mới tới được Liverpool vì phải đi xe lửa từ sân bay Manchester đến Liverpool nữa, trong khi nếu đi xe lửa thẳng từ đây đến Liverpool chỉ mất chừng bốn tiếng đồng hồ. Rồi ông chìa cho tôi xem coupon trị giá ba bảng Anh, chua chát: “Nó đưa cái này để đền lúc chờ ở sân bay, nói “xin lỗi, mong ngài nhận lấy coupon này rồi muốn mua thức ăn gì cũng được”, làm như không phải nó đền ba bảng mà ba trăm bảng vậy”. (Quả thật ở sân bay Anh, ba bảng tương đương hơn 90 ngàn đồng chỉ mua được ổ bánh mì thịt và hũ yaourt ở cửa hàng Boots, nhưng tôi tiếc ông hành khách này không tới Việt Nam để xem Vietnam Airlines hoãn một chuyến bay đến mấy lần, một ly nước cũng không có mà uống, thử ông còn cằn nhằn đến đâu). Quả thật, chuyến đi “bão táp” lần đó không biết máy bay có bị quá tải không mà suốt chuyến chỉ bay thấp là đà, lúc nào cũng thấy phong cảnh bên dưới, lại gập ghềnh nảy lên nảy xuống như vấp ổ gà làm ai cũng thót tim.

Tôi đến Southampton một mình vào một ngày đầu tháng chín, và rời thành phố với Aly vào một ngày tháng mười năm sau, khi sương mù buổi sớm giăng đầy. Tôi về nhà ba mẹ anh tạm vài ngày trước khi bắt đầu chuyến du lịch vòng quanh châu Âu một tháng. Khi đi qua khúc quanh trên đại lộ, Aly đột nhiên bảo: “Tưởng tượng được không, mình đang rời khỏi Southampton luôn rồi!”.

Câu nói của anh làm tôi giật mình. Tôi không thể quay lại nhìn Southampton lần cuối vì băng ghế sau xe đã chất đầy những vali quần áo đồ đạc sách vở TV máy đĩa tận nóc làm ngăn tầm mắt tôi nhìn, và vì tấm chăn to tướng có bọc ra vẽ hình chim cò loạn xạ Aly mua từ Mông Cổ đặt trong lòng khiến tôi không mở cửa xe được. Nhưng tôi không buồn vì biết những kỷ niệm mười bốn tháng ở đây sẽ mãi còn trong tôi, tiếc chi cái nhìn lần cuối?

(*) shelter: nơi ở dành cho người nghèo không nhà

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2007

Hương lài trên phố Sài Gòn

Trang báo Anh giới thiệu ẩm thực và nụ cười VN
Khi còn làm việc ở tòa nhà Metropolitan trên đường Đồng Khởi, quận 1, buổi trưa tôi thường rủ đồng nghiệp hoặc bạn bè ghé nhà hàng nhỏ này.

Hôm nào không ai rảnh đi ăn chung, tôi đi một mình. Không hẳn vì thức ăn ở đây ngon hơn nơi khác, thực đơn cũng chẳng đa dạng phong phú gì, cũng không hẳn vì nhà hàng cách công ty tôi một quãng đi bộ ngắn qua ngã tư nhộn nhịp xe cộ. Đơn giản chỉ vì tôi “cảm” tinh thần của người chủ nhà hàng xa lạ chưa gặp mặt lần nào và vì quí mến những em phục vụ ở đây.

Tôi rời VN vội vã không kịp ghé quán chào mọi người, và bẵng đi một thời gian bận bịu không nhớ đến căn gác nơi tôi hay ngồi có cửa sổ nhìn xuống đường ấy nữa. Rồi gần nửa năm sau ngày tôi sang Anh, trang Du lịch của tờ Times - nhật báo phổ biến và rất uy tín ở xứ sương mù - mời độc giả bản xứ tham gia viết bài dưới 500 chữ cho chủ đề của tháng mười: ẩm thực.

Tôi dè dặt gửi một bài viết ngắn về quán nhỏ ấy, cứ tưởng sẽ chìm lấp trong những ẩm thực Pháp, Ý, Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa... Không ngờ bài viết được đăng trên tờ Times ra ngày thứ bảy, lại được ưu ái cho vị trí đầu tiên trong loạt bài ít ỏi được đăng báo in. Và còn ưu ái hơn nữa khi tấm hình minh họa duy nhất của nguyên trang Du lịch này có lời chú thích “Bữa tiệc của món ngon: người bán trái cây tại một chợ TP.HCM”, được nhiếp ảnh gia nổi tiếng Ken Gillham chụp một người được bao quanh là bưởi, sầu riêng, nhãn lồng...

Tôi tự dịch bản gốc bài viết tiếng Anh của mình sang tiếng Việt dưới đây như một lời cảm ơn đối với những người đã lặng lẽ làm cho cuộc sống ý nghĩa hơn.
Mặt tiền của nhà hàng Hương Lài
"Tôi khám phá nhà hàng thú vị này một cách tình cờ. Chúng tôi đi bộ lòng vòng tìm một nơi ăn trưa ở trung tâm quận 1, Sài Gòn (tên chính thức: TP.HCM) và bắt gặp tấm bảng hiệu nhỏ xíu "Hương Lài - 38 Lý Tự Trọng - quận 1".


Nhìn từ bên ngoài, trông nó không giống nhà hàng chút nào, có lẽ vì quá hẹp và quá đơn giản. Nhưng sau khi bước lên cầu thang gỗ, căn gác mở ra thành một phòng ăn rất có gu với tường gạch đỏ nâu không quét vôi, ghế mây và những bức thổ cẩm - một loại vải nhiều màu sắc của người dân tộc thiểu số phía Bắc VN - làm duyên trên tường. Không gian thoảng mùi thơm mát dìu dịu của hoa lài tươi nổi trên những chén nước nhỏ đặt ở mỗi bàn ăn. (Tên "Hương Lài" có nghĩa là "scent of jasmine" trong tiếng Việt).


Chúng tôi ăn cơm trắng với tôm rang me, gồm tôm rim nhỏ lửa trong nước mắm và nước cốt trái me nhiệt đới, cà tím nướng mỡ hành thoảng mùi khói, làm từ một loại cà giống aubergine nướng với hành lá và dầu hướng dương. Bữa ăn ngon miệng kết thúc bằng canh gà lá giang, món súp gà kiểu địa phương nấu chung với một loại lá chua thanh mọc hoang trong những bụi rậm ở miền quê. Hóa đơn thanh toán chỉ khoảng năm bảng Anh cho ba người, ngay cả đối với vật giá rất rẻ ở VN, giá cả như thế này cũng rất phải chăng.


Và tôi mến nhà hàng đáng yêu này hơn nữa khi tình cờ biết được đội ngũ phục vụ tươi cười nhã nhặn, mặc quần áo kiểu nông dân của quán đều xuất thân từ trẻ mồ côi hoặc trẻ em đường phố. Bắt đầu từ năm 2001, Hương Lài là dự án của Jin Shirai - một người Nhật đến Sài Gòn học ngôn ngữ và văn hóa Việt. Sau khi về Nhật, ông nhận ra mình gắn bó với đất nước xa lạ đến mức nào và quyết định trở lại làm một điều gì đó có ý nghĩa, bằng cách mở nhà hàng nhỏ để tạo cơ hội việc làm cho những người trẻ địa phương có hoàn cảnh khó khăn.


Các em được học tiếng Anh, được đào tạo về ngành dịch vụ và những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống để trở thành đầu bếp hoặc phục vụ bàn, rất nhiều em trong số đó hiện đang làm việc cho những nhà hàng lớn ở thành phố. Nhà hàng cũng rất mang tính địa phương: rượu vang từ một vùng cao nguyên miền Trung VN, ghế mây, bia Sài Gòn, tranh treo tường của các họa sĩ Việt, chén đĩa được làm bằng tay từ gốm...


Vậy là tôi có thêm lý do để đến đây ăn trưa thường xuyên hơn, để được ngồi trên căn gác ấm áp nhìn thế giới trôi qua dưới những tán cây me lớn trên đường Lý Tự Trọng. Mùi hương hoa lài trên bàn làm tôi tươi tỉnh, thấy lòng nhẹ nhàng và lạc quan hơn. Cho đến lúc đó, tôi mới tin lời các chuyên gia về hương liệu: "Khi nói đến những công dụng về tinh thần, hoa lài thật sự tỏa sáng".


Có lẽ Shirai không biết, và cũng không cần biết "ngôn ngữ hương hoa". Đơn giản ông chỉ muốn tạo ra một điều tốt đẹp giản dị cho Sài Gòn, nơi ông yêu quí và muốn đóng góp một phần nhỏ. Nhưng nhà hàng Hương Lài của ông có ý nghĩa hơn nhiều so với "giá trị làm tăng cảm xúc giác quan" mà bản thân loài hoa này mang lại".
______________

Chú thích: Những chữ in nghiêng trong bài được giữ nguyên bản tiếng Việt trong bài viết trên The Saturday Times, để độc giả bản xứ biết thêm tên những món VN khác ngoài phở và chả giò.

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2007

Khuyến khích mọi ứng viên xuất sắc

Có thể nói Chevening là học bổng qui mô nhất của chính phủ Anh hiện nay, dành cho những ứng viên xuất sắc đến từ 150 nước trên thế giới theo học những chương trình sau đại học tại bất cứ trường nào ở Vương quốc Anh.

Bà Karen Maddocks
Bà Karen Maddocks - đại sứ quán Anh tại Hà Nội, đại diện chương trình Chevening - cho biết: "Số ứng cử viên đáp ứng tiêu chuẩn học bổng luôn nhiều hơn số lượng học bổng mà chúng tôi có mỗi năm. VN có rất nhiều người tài và có kỹ năng mà chúng tôi cần".

* Đã 14 năm kể từ ngày học bổng Chevening lần đầu tiên được cấp tại VN. Có điểm chung nào giữa những ứng viên VN được nhận học bổng trong vòng 14 năm qua?

- Tất cả ứng viên nhận học bổng Chevening từ trước đến nay đều có điểm chung: đó là những người năng động và nhiều hoài bão. Trong quá trình chọn hồ sơ và phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi tìm kiếm những người có tiềm năng sẽ thành đạt ở VN trong tương lai, những người sẽ trở về VN sau khi học xong và tiếp tục cống hiến cho VN.

* Nhiều ứng viên VN rất thông minh nhưng lại ngại ngùng và không cảm thấy thoải mái khi nói về khả năng và thành tích của mình, đó là một bất lợi cho họ khi vào vòng phỏng vấn. Bà có thể đưa ra một lời khuyên?

- Một điều quan trọng cần nhấn mạnh: đối với học bổng Chevening, chúng tôi tuyển những ứng viên không chỉ thông minh mà còn phải tự tin và tập trung vào những gì họ muốn đạt được trong cuộc sống của chính mình.

Chúng tôi không chỉ đơn thuần tìm kiếm những bạn học giỏi, có bảng điểm cao ở trường. Khi nộp hồ sơ, các bạn nên xác định rõ ràng những tham vọng, hoài bão của mình và tự trả lời với chính mình bạn lập kế hoạch đạt được hoài bão đó bằng cách nào, tại sao chương trình học sau đại học ở Anh giúp ích cho hoài bão đó. Nếu các bạn có mục tiêu rõ ràng trong cuộc sống, những phỏng vấn viên của Hội đồng Anh và Đại sứ quán Anh sẽ nhận ra điều này qua những câu trả lời của các bạn, ngay cả khi nhận thấy bạn có hơi căng thẳng lo lắng trong khi phỏng vấn.

* Tại sao trước đây học bổng Chevening không giới hạn tuổi, song những năm gần đây lại có giới hạn ứng cử viên từ 25 - 35 tuổi?

- Giới hạn tuổi chỉ là một thước đo mang tính tương đối. Chúng tôi tìm kiếm những ai vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu trong sự nghiệp, nhưng có thể chứng tỏ được tiềm năng trở thành người thành đạt trong tương lai.

Vì vậy, chúng tôi muốn tuyển những ứng cử viên đã có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực của mình (hơn là sinh viên vừa mới ra trường), và có khả năng đạt được những thành quả quan trọng trong ngành họ theo đuổi sau này. Chúng tôi vẫn sẽ chọn những hồ sơ của những ứng cử viên xuất sắc nằm ngoài giới hạn tuổi nói trên nhưng đáp ứng những yêu cầu khác của học bổng.

* Một số ý kiến cho rằng học bổng Chevening phần lớn dành cho những người làm việc trong các cơ quan nhà nước và các lĩnh vực công, còn những ai làm việc trong lĩnh vực tư, như các công ty đa quốc gia chẳng hạn, có rất ít cơ hội. Điều đó có đúng không, thưa bà?

- Điều này không đúng. Học bổng này không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening.

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN thực hiện
__________
* Hiện học bổng Chevening đang tiếp tục tuyển các ứng viên VN cho năm học 2008-2009. Điều kiện: thành tích học tập khá giỏi hoặc xuất sắc, có tiềm năng thành đạt trong lĩnh vực mình làm việc và đóng góp cho sự phát triển của VN. Độ tuổi thường từ 25 - 35, có ít nhất hai năm kinh nghiệm làm việc và điểm IELTS từ 6.5 trở lên.

* Các thí sinh quan tâm đến học bổng Chevening có thể tìm kiếm thêm thông tin và lấy mẫu hồ sơ trực tiếp tại văn phòng Hội đồng Anh ở Hà Nội hoặc TP.HCM, trên trang web www.chevening.com hoặc liên lạc qua địa chỉ email gam.tran@britishcouncil.org.vn.

Hạn chót nộp hồ sơ: 23-11-2007.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007

Người đi nhờ xe Anna Dillon

Minh họa: Hoàng Tường
Trèo trở lại vào xe, Teri Wilde cài dây an toàn, cười gượng gạo với anh chàng cảnh sát giao thông rồi nhẹ nhàng cho chiếc BMW chạy khỏi lề đường. Phải cố gắng lắm cô mới không nhấn mạnh ga để bắn sỏi dưới bánh xe vào gương mặt anh cảnh sát.

Cô gặp quá đủ phiền hà. Đây đã là lần thứ ba trong tháng cô bị phạt vì chạy quá tốc độ, là lần thứ hai bị phạt bởi chính anh cảnh sát này.

- Cô có biết cô đang lái xe với tốc độ 130km/giờ trên quãng đường chỉ cho phép 120 km/giờ không? - Giọng kẻ cả, anh ta vừa nói vừa nghiêng người nhìn vào xe, phủ lên bầu không khí trong xe một mùi mồ hôi của quần áo chống thấm nước quyện nước hoa nam mùi xạ.

Cô chớp chớp mắt. Phải nói gì bây giờ? “Vâng, tôi biết. Có biết tôi mới lái vậy chứ!”, hay “Không, tôi không biết. Sao anh lại nghĩ tôi lái với tốc độ như vậy?”.

Cô đoán sẽ chẳng có câu trả lời nào được chấp nhận nên chỉ lắc đầu rồi nhún vai. Thậm chí cô chẳng buồn nghĩ ra một lý do bào chữa, chắc anh chàng đã nghe hết cả rồi! Nhìn anh ta rút cuốn sổ ra, cô tự hỏi mình bị bao nhiêu điểm phạt trên bằng lái rồi nhỉ?

Có khi anh chàng ghen tị với cô! Anh ta ngồi đó buồn chán và thấy một chiếc BMW 7 Series màu đỏ vượt quá tốc độ về hướng mình, cầm lái là một cô gái trẻ đẹp, thậm chí nếu cô không chạy quá tốc độ có khi anh ta cũng thổi cô lại chỉ để ngắm một chút. Quá tốc độ 10km/giờ đã là gì đâu. Xe này chạy nhanh hơn nhiều vẫn được, cô biết mà, có lần cô chạy 160km/giờ trên đường vòng Athlone rồi.

Thật bất công. Khi anh chàng cảnh sát đang nói chuyện với cô, hàng tá xe khác chạy băng qua, đèn thắng xe nhấp nháy và bánh xe nghiến trên đường ken két khi người ngồi sau vô-lăng nhận ra có chiếc xe cảnh sát ẩn phía sau chiếc BMW đỏ. Tại sao họ không bị thổi chứ?

Teri liếc nhìn kiếng chiếu hậu. Viên cảnh sát vẫn đứng trên đường nhìn theo cô; cô nghĩ có khi anh ta còn nhăn răng cười. Cô nhăn mặt cáu kỉnh, chắc cô đã đủ điểm phạt để bị treo bằng lái rồi, nhưng có lẽ Brian quen biết ai đó.

Brian luôn luôn quen biết một ai đó.

Vậy cô phải kể chuyện này cho chồng nghe ư? Cô chưa kể cho anh nghe về hai vé phạt lần trước. Nhưng dù sao đi nữa, bây giờ có rất nhiều thứ cô có kể anh nghe nữa đâu.

Teri lái vòng qua chỗ ngoặt khuất tầm mắt viên cảnh sát rồi sang số, nhấn ga sát xuống sàn xe. Chiếc xe lao tới, kim chỉ tới số một trăm, một trăm mười, một trăm hai mươi, một trăm hai lăm cây số giờ. Ít ra cô cũng biết được đoạn đường còn lại không có cảnh sát. Vẫn giữ tốc độ đó, Teri cho xe chạy bon bon. Cô không nghĩ mình chạy quá nhanh: nhiều xe khác còn vượt qua xe cô kia mà.

Nếu bị mất bằng lái, cô sẽ phải báo cho chồng... và Brian sẽ không vui chút nào. Anh sẽ thất vọng ra mặt, lắc đầu và chắt lưỡi - nghĩ tới đó là cô tức điên. Nhiều khi anh quên anh là chồng cô chứ không phải bố cô.

Brian Wilde lớn hơn cô gần hai mươi lăm tuổi và chiều chuộng cô một cách thái quá: mua cho cô tất cả mọi thứ cô muốn - và cả rất nhiều thứ cô không muốn. Chiếc xe này là món quà kỷ niệm sáu năm ngày cưới, đối với anh cô có cần hay muốn một chiếc xe mới không quan trọng. “Ngay lúc nhìn thấy nó, anh biết mình sẽ phải mua nó cho em”, anh nói khi cô phản đối sự phung phí này, rồi thêm “Thấy em vui là anh vui rồi!”.

Cô đã không đáp lại câu nói đó của anh bằng một câu tương tự.

Ba tháng nữa đến kỷ niệm ngày cưới lần thứ bảy. Rất nhiều người đoán cuộc hôn nhân của họ sẽ không kéo dài quá một năm, đó là những người đã nghĩ - không, đã biết thì đúng hơn - rằng Teri lấy Brian vì tiền. Họ thấy khó tin cô thật sự yêu anh. Môi Teri mím lại, cô bất chợt cười khẩy. Cô đã thật sự yêu anh, nhưng câu này ở thì quá khứ. Còn bây giờ?

Mọi thứ thay đổi.

Con người thay đổi.

Họ đã yêu nhau thắm thiết khi cưới, nhưng vài năm trở lại đây, sự khác biệt về lai lịch, giáo dục, sở thích, tuổi tác - những sự khác biệt đã mang họ lại với nhau - đã gây ra những xích mích giữa họ. Mọi thứ anh nói hay làm đều khiến cô phát cáu. Cô cũng bắt đầu nhận ra Brian cũng ngày một bực bội bởi những thói quen mà trước đây anh cho là duyên dáng quyến rũ nơi cô.

Khi làn xe kết thúc và con đường hẹp lại, Teri cho xe chạy chậm chút đỉnh. Đèn báo hiệu mức xăng nhấp nháy và kim trên bảng báo xăng đã chỉ gần đến số zero. Lẽ ra cô đã đổ đầy bình ở trạm xăng gần đây nhất, nhưng vụ bực mình với viên cảnh sát làm cô quên khuấy. Không biết đi được bao nhiêu dặm nữa đây.

Một bảng giao thông hiện ra trước mắt cô: Balbriggan-Drogheda-Dundalk-Belfast. Brian sẽ bay tới Belfast trên chuyến bay từ London sáng nay để kịp buổi họp với các quản lý cụm khách sạn anh sở hữu. Anh muốn tự lái từ Belfast về Dublin, nhưng cô khăng khăng để cô tới sân bay đón anh về. Đến Belfast bằng chiếc BMW của cô chỉ mất chừng hai tiếng đồng hồ, rồi khi chở anh về họ sẽ có vài giờ nói chuyện với nhau. Họ gần như không có thời gian trò chuyện nữa. Khi mới quen nhau tám năm trước, họ có thể nói chuyện suốt ngày, lạy Chúa, họ nói chuyện với nhau về mọi thứ, tất cả mọi thứ. Cô đã thật sự bị mê hoặc bởi kiến thức sâu rộng, bởi kinh nghiệm sống, bởi những câu chuyện du lịch vòng quanh thế giới của anh. Về phần Brian, anh mê mẩn sự sôi nổi, tình yêu cuộc sống của cô, cũng như sự ham học hỏi về rượu, món ăn và kịch nghệ nơi cô, những thứ anh biết rõ nhưng cô chỉ biết lơ mơ về nó cho đến lúc gặp anh. Khoảng cách hai mươi lăm năm tuổi tác gần như là một thế mạnh cho cả hai: họ có thể mang lại cho nhau một điều gì đó thật đặc biệt. Tính cách Brian và Teri cũng trái ngược nhau hoàn toàn, điều đó tạo nên sức hút mạnh mẽ. Sức hút này nhanh chóng biến thành tình cảm rồi trở thành tình yêu, và đến một lúc việc kết hôn trở nên tất yếu.

Teri cau mày. Gần đây, cô thường tự hỏi không biết lúc đó họ có thật sự yêu nhau không. Cô có còn yêu anh không cách đây ba năm, khi cô có một mối tình vụng trộm, rồi cách đây chưa tới một năm, với một mối tình vụng trộm khác? Cả hai mối tình đều là những say mê mãnh liệt nhưng qua nhanh, làm cô vừa hân hoan vừa ghê tởm. Có phải việc cô ngoại tình là một bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa hai người có gì đó không ổn? Cô có thể thoát ra khỏi mối quan hệ này, sẽ dễ dàng hơn nếu cô làm vậy, và đó cũng là một điều chân thật đáng làm. Cô vẫn tiếp tục ở lại với Brian vì cô thật sự mến anh và cũng vì cô đã quá quen với cuộc sống sung sướng. Môi cô mím lại trong một nụ cười cay đắng. Cuộc hôn nhân với Brian đã biến cô thành một người ra sao?

Cô muốn nói với anh. Cô cần nói với anh - không phải để làm anh tổn thương, không bao giờ - mà chỉ để giải thích cuộc hôn nhân đã thoát khỏi tầm kiểm soát của cả hai như thế nào.

Ánh đèn đỏ, cam và vàng của trạm xăng hiện ra bên trái. Cô bấm đèn xi-nhan rồi lái chậm lại, cắt ngang đường rồi tấp vào trạm xăng, bánh xe nghiến ken két, tảng lờ tiếng bóp còi đinh tai của những chiếc xe phía sau.

Anh chàng trẻ tuổi ở trạm xăng chỉ say mê nhìn chiếc BMW ngay cả khi cô ra khỏi xe với chiếc váy hơi kéo lên để lộ một phần đôi chân rám nắng. “Làm ơn đổ đầy bình”, cô dấm dẳn, rồi liếc nhìn chiếc đồng hồ hiệu Dior bé xíu có đính kim cương trên tay: chuyến bay của Brian sẽ hạ cánh trong vòng một tiếng rưỡi nữa, cô rất muốn tới đó đúng giờ. Anh ghét phải chờ đợi.

Khi lái xe khỏi trạm xăng, Teri nhìn thấy người đi nhờ xe.

Anh ta đang ngồi bên đường, trên chiếc ba lô kiểu quân đội, vẻ mặt mệt mỏi và hai vai xuôi xuống chán nản cho thấy anh đã ngồi đó lâu lắm rồi. Anh còn trẻ - dưới 25 tuổi - mái tóc vàng óng buộc túm đuôi ngựa sau lưng. Mặt anh hình trái xoan, mắt xanh da trời nhạt, môi đầy đặn, cằm cương nghị và chiếc áo thun sờn che những bắp thịt vạm vỡ. Anh làm cô nhớ tới một người nào đó, cô không nhớ là ai, có lẽ là một ngôi sao điện ảnh hay ca sĩ thì phải. Cô nhìn kiếng chiếu hậu: anh có liếc nhìn xe cô nhưng rồi nhìn đi hướng khác vì biết khả năng được đi nhờ xe chỉ có một phụ nữ trên đó gần như bằng không. Teri cũng chưa bao giờ cho người lạ đi nhờ.

Cô nhấn còi, bấm đèn xi-nhan rồi lái xe vào lề đường.

Teri quan sát anh từ kiếng chiếu hậu, cô có thể đọc được những biểu lộ tình cảm của anh trên gương mặt: ban đầu là một tia hy vọng lóe lên, rồi sự chần chừ và cuối cùng là cảm giác nhẹ nhõm. Anh cầm ba lô lên rồi nhanh nhẹn chạy đến xe. Teri kéo cửa xe xuống. Khi anh cúi người nhìn vào xe, một lần nữa cô kinh ngạc vì vẻ quen thuộc khác thường của anh. Có lẽ cô đã gặp anh ở đâu đó... ở một bữa tiệc... hay một buổi lễ từ thiện nào chăng?

- Cảm ơn chị đã dừng lại. Tôi muốn đi nhờ xe về hướng Bắc - Anh nói với giọng địa phương của một vùng nào đó mà cô không nhận ra.

- Tôi đi Belfast. Cho giỏ của cậu vào cốp xe đi.

Anh vác chiếc ba lô nặng trịch cho vào cốp xe, rồi phủi bụi trên bộ quần áo.

- Có vẻ như cậu đợi cũng khá lâu rồi hả? - Cô hỏi khi anh trèo vào xe. Anh toát lên mùi xạ và mồ hôi. Rất đàn ông.

- Cảm ơn chị nhiều lắm! Bữa nay ít ai cho đi nhờ xe - Anh trả lời lửng lơ.

- Cậu đi được xa chưa?

- Cũng khá xa. Sau khi tốt nghiệp trung học tôi nghỉ một năm để đi nhờ xe vòng quanh thế giới. Bây giờ tôi đang trên đường về nhà.

Teri nhớ có lần Brian nói với cô anh cũng du lịch vòng quanh thế giới bằng cách đi nhờ xe.

- Sao thích đi kiểu đó vậy? - Cô hỏi anh đúng câu cô đã hỏi chồng.

Anh nhún vai rồi nhe răng cười. Liếc nhìn anh, cô nhận ra anh còn trẻ hơn nhiều so với lúc thoạt nhìn thấy ngồi bên đường. Và cũng khá có duyên.

- Tại sao không? - Anh trả lời đúng câu của Brian lúc trước. Anh xoay người lại - Tôi tên Mark.

- Tôi tên Teri - Cô sang số - Đi nhờ xe vòng quanh thế giới, nghe điên thật!

- Vậy chị chưa bao giờ muốn làm điều gì đó thật điên hay sao, Teri?

- Lúc nào cũng muốn - Cô nói, rồi ngạc nhiên nhận ra vẻ cay đắng trong giọng nói của mình.

- Tại sao chị không muốn? - Anh dựa vào ghế da, hỏi tiếp.

Cô hất đầu cười:

- Ồ Mark, ước gì mọi thứ đơn giản như cậu nghĩ.

- Đơn giản thật mà! Nếu chị muốn làm gì, cứ làm đi. Cứ sống thật với mình.

- Thật sự không đơn giản vậy đâu - Cô khăng khăng - Tôi có chồng rồi, tôi còn trách nhiệm…

- Ồ.

Cô ý thức được anh đang nhìn thẳng vào tay cô.

- Không thấy chị đeo nhẫn.

- Tôi không thích đeo nữ trang - Cô tự vệ.

Trong một chừng mực nào đó, điều này cũng đúng. Nếu cô đeo quá nhiều nữ trang người ta lại càng đoan chắc cô lấy Brian vì tiền. Nhưng thật ra nhẫn cưới chỉ được tháo ra khỏi ngón tay cô khoảng ba năm trước, khi cô ngoại tình lần đầu. Bây giờ cô có thói quen tháo nó ra mỗi khi không có mặt Brian, và thỉnh thoảng ngay cả khi có Brian bên cạnh. Cô không nghĩ Brian nhận thấy, anh quá bận rộn với việc kinh doanh nên không để ý những điều này.

- Tôi lái xe tới Belfast để đón chồng - Cô vội vã thêm.

- Anh ấy quả may mắn.

Teri liếc anh thật sắc, không biết anh có đang mỉa mai hay không:

- Sao cậu nói vậy?

- Không phải người vợ nào cũng chịu lái xe từ Dublin tới Belfast để đón chồng đâu. Chị phải yêu anh ấy nhiều lắm mới làm vậy.

Câu trả lời nhanh - nói cách khác là câu trả lời có sẵn - sẽ là “Đúng rồi, tôi yêu anh ấy”, nhưng có vẻ như sự thật dễ nói hơn:

- Tôi không biết tình cảm của mình cho anh ấy thế nào nữa.

Mark liếc cô thật nhanh, rồi quay mặt nhìn ra cửa sổ xe. Nhìn về hướng anh, Teri thấy gương mặt anh trong kiếng chiếu hậu và một lần nữa thấy ngạc nhiên vì những nét quen thuộc của gương mặt ấy. Cô đã gặp anh ở đâu nhỉ?

- Vậy sao chị lại đi đón anh ấy?

- Tôi muốn nói chuyện với anh ấy. Tôi cần nói chuyện với anh ấy, cho anh ấy biết… tôi đã cảm thấy thế nào trong vài năm trở lại đây. Tôi muốn biết được liệu chúng tôi… - Cô ngừng lại, rồi thêm -… có thể giải quyết được mọi thứ không.

- Có vẻ như chị vẫn còn yêu anh ấy đấy - Mark nói.

Teri mở miệng ra định trả lời, nhưng lại thôi vì không biết phải nói gì. Cô nhấc nhẹ chân khỏi chân ga xe và để kim đồng hồ dao động quanh số 120.

- Một năm du lịch xong rồi, cậu có định tiếp tục đi học không? - Cô lịch sự hỏi, cố chuyển hướng cuộc trò chuyện.

- Dĩ nhiên rồi. Tôi muốn học nhiều thứ lắm, có rất nhiều khóa học tôi muốn ghi danh - Cậu vừa nói vừa cười - Có khi tôi là sinh viên tới năm bốn mươi tuổi!

- Vậy thì tốt! - Teri lơ đãng - Tôi chưa bao giờ thật sự thích đi học. Ngồi trong lớp giờ này sang giờ kia nghe giáo viên giảng bài giọng đều đều làm tôi chán phát khóc lên được. Chỉ tới khi Brian, à đó là tên chồng tôi, dạy tôi nhiều thứ, tôi mới bắt đầu thấy thích học. Hồi đó anh ấy hay trêu tôi vì tôi hỏi nhiều quá - Cô hít một hơi thật sâu - Bây giờ thì anh ấy chẳng buồn dạy tôi gì nữa.

- Vậy chị có buồn hỏi anh ấy gì nữa không?

Teri lắc đầu. Cô đã không hỏi anh gì nữa kể từ ba năm trước.

- Có khi chị phải nghỉ ngơi một thời gian - Mark nói khẽ - Đi du lịch. Dành một ít thời gian riêng cho chính mình.

- Một mình à? - Cô ngạc nhiên hỏi - Tôi không chắc liệu Brian có muốn tôi đi một mình không.

- Chị có bao giờ hỏi anh ấy chưa?

- Chắc là chưa.

- Có khi chị nên hỏi.

- Có khi tôi sẽ hỏi.

- Tôi dám cá anh ấy sẽ khuyên chị nên đi. Nếu anh ấy yêu chị, anh ấy sẽ nói vậy.

Teri gật đầu. Có lẽ Brian sẽ đồng ý, mặc dù thay vì đi một mình, có thể hai người nên đi nghỉ đâu đó với nhau. Một kỳ nghỉ yên tĩnh, không có điện thoại và fax, không có Internet và email. Chỉ có hai người, cùng nhau tìm lại những sức hút ban đầu.

- Chị làm gì để giải trí? - Mark xoay người trên ghế nhìn cô.

- Giải trí? - Một thời gian dài cô đã không nghĩ gì tới “giải trí”. Có vẻ trẻ con thật, cô nghĩ, rồi nói - Tôi đi mua sắm.

- Nhưng chị làm gì chung với chồng chị để giải trí?

Câu trả lời đúng là “Không làm gì hết”, nhưng cô không biết phải nói như thế nào.

Họ lái xe đi trong im lặng. Cô có thể cảm nhận được vẻ chỉ trích không nói ra từ Mark. Cuộc sống của cô có quá rõ ràng không? Xe hơi xa xỉ, quần áo đắt tiền, chồng làm kinh doanh cứ đi xa để lại cô vợ bất mãn ở nhà?

- Cậu không hiểu được đâu, Mark. Cuộc sống không phải lúc nào cũng trông như bề ngoài.

- Có vẻ như chị vẫn ổn mà.

- Tôi không nói về vật chất. Tôi muốn nói về thời gian. Khi tôi ở tuổi cậu - cũng cách đây không lâu lắm đâu - tôi thường nghĩ tôi có tất cả thời gian theo ý mình. Nhưng sau đám cưới, ngay cả trước khi cưới, lúc nào thời gian của tôi cũng bị đòi hỏi phải làm cái này cái kia. Bây giờ có vẻ như tôi chẳng có lúc nào cho riêng mình nữa.

- Ngay cả khi chồng chị đi vắng?

- Đặc biệt khi anh ấy đi vắng. Tôi phải lo chuyện nhà, rồi những ràng buộc xã hội, những tổ chức từ thiện tôi tình nguyện làm. Khi đã leo lên vòng quay, mình khó mà leo xuống được - Cô kết thúc câu nói một cách yếu ớt.

Cũng chiếc vòng quay ấy đã mang lại cho cô mối tình vụng trộm đầu tiên. Khi Brian đi vắng, cô đã giao mình cho guồng xoáy xã hội, lấp đầy những giờ trống bằng những chuyện vớ vẩn và một anh chàng môi giới chứng khoán đẹp trai có một cô vợ tóc vàng và ba đứa con cũng tóc vàng.

- Dĩ nhiên là được. Chị cứ leo xuống vòng quay.

- Cậu chỉ là một đứa trẻ thôi - Cô nổi nóng - Cậu không biết cậu đang nói gì đâu, đơn giản là cậu không hiểu được đâu.

- Có khi tôi hiểu nhiều hơn chị tưởng - Anh nhẹ nhàng - Tôi nghĩ chị đang thấy dằn vặt.

- Dằn vặt? Cậu nói gì kỳ vậy?

- Nói chị đấy! - Mark cười - Chẳng cần phải là Sherlock Holmes cũng biết được chuyện gì đang xảy ra. Chị chẳng bảo tôi chị lái xe về phía Bắc đón chồng để hai người có vài tiếng đồng hồ trò chuyện đó sao. Chị còn nói để có thể giải quyết mọi việc. Có vẻ sẽ là cuộc trò chuyện quan trọng đấy.

Teri lại liếc nhìn anh. Anh thật sự rất đẹp trai. Làn da không một nếp nhăn, răng trắng và đều. Teri lại thấy sự thao thức trước đây trở lại trong lòng. Ước gì mình bằng tuổi cậu ta và cả hai đều tự do như cánh chim không gì ràng buộc. Ngay lúc đó anh quay lại nhìn cô, mắt anh gặp mắt cô, và cô hoàn toàn tin chắc anh biết chính xác cô đang nghĩ gì.

- Tôi thấy chị đang dằn vặt - Mark cười - Chị có làm gì đó. Rồi chị lưỡng lự nửa muốn thú nhận với chồng, nửa muốn im lặng.

Teri mím môi không nói. Cô có nên nói với Brian về hai lần ngoại tình, hay không nói gì và cố giữ gìn cuộc hôn nhân hiện có.

- Có khi anh ấy biết đấy! - Mark nói khẽ, không nhìn cô.

- Ý cậu muốn nói gì? - Cô gặng.

- Chị có nói anh ấy thông minh và thành đạt mà. Có khi anh ấy biết hết và chỉ chờ chị thú nhận thôi.

- Cậu học ngành tâm lý học phải không? - Cô cáu kỉnh.

- Không, học kinh doanh.

- Brian cũng học khoa kinh doanh. Tôi ngoại tình một lần, không, hai lần - Cô khẽ nói, cảm thấy bị sốc vì đã thú nhận điều này với một người lạ - Cậu có nghĩ anh ấy sẽ tha thứ không?

- Anh ấy có yêu chị không? - Mark hỏi, rất nhẹ nhàng.

- Có - Teri thừa nhận.

- Nếu chị thành thật nói với anh ấy, anh ấy sẽ tha thứ đấy. Khi yêu, người ta có thể tha thứ cho nhau mọi điều.

Teri im lặng suốt vài dặm đường, rồi gật đầu:

- Cậu nói đúng. Tôi sẽ bảo anh ấy. Trước khi nói chuyện với cậu, tôi sợ không dám nói cho anh ấy biết vì không muốn làm anh ấy tổn thương.

- Nếu anh ấy đã biết rồi, thì khi chị không nói anh ấy càng tổn thương hơn.

- Cậu khá sâu sắc đối với một sinh viên khoa kinh doanh đấy.

- Kinh doanh là cuộc sống - Anh nói nhỏ, gần như thì thầm - Hiểu một điều, rồi sẽ hiểu điều tiếp theo.

- Brian cũng nói y như cậu vậy - Cô nói.

***

Họ lái xe trong im lặng. Có lẽ anh chàng đi nhờ xe đang gà gật ngủ. Teri thấy mừng vì đã cho anh đi nhờ, anh nói đúng: cô cần phải thành thật với Brian. Cô sẽ thú nhận tất cả với chồng. Và nếu Brian và cô phải chia tay, cô sẽ làm những điều Mark đề nghị: bước ra khỏi vòng quay cuộc sống và dành một ít thời gian cho chính mình.

- Cậu muốn tôi cho cậu xuống chỗ nào? - Cô hỏi khi thấy anh cựa mình trên ghế.

- Chị lái xe tới sân bay đúng không? Vậy được rồi, tôi sẽ xuống đó.

Cô bật cười:

- Cậu không đi nhờ máy bay được đâu đấy nhé!

- À không - Anh nói rồi tiếp tục nhìn ra cửa xe.

Sự im lặng của anh bắt đầu làm cô thấy không thoải mái.

Chiếc BMW lăn bánh vào bãi đậu xe, cô liếc nhìn đồng hồ. Chuyến bay của Brian có lẽ đã hạ cánh rồi, cô phải nhanh lên mới được.

- Cậu lấy giỏ đi - Sốt ruột, cô vừa leo khỏi xe vừa nói, chờ đợi người ngồi cạnh cũng sẽ bước ra từ phía ghế bên kia.

Nhưng khi cô đi một vòng quanh xe, không thấy anh đâu.

Anh cũng không còn ngồi chỗ ghế xe cạnh cô. Cô bối rối nhìn xung quanh, gọi “Mark, Mark”.

Teri liếc nhìn vào trong cốp xe. Không thấy ba lô của anh. Anh đi đâu rồi? Cô không nghĩ anh chỉ lấy giỏ rồi đi mà không nói một lời nào như vậy.

Teri dập cốp xe lại rồi đi bộ vào khu vực đón khách ở sân bay. Hay là cô đã tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ này, hay là mơ thấy nó? Nhưng mọi thứ đều không thể thật hơn. Cô còn nghe cả mùi mồ hôi của anh, cả tiếng cười pha trò của anh nữa. Trông anh cũng thật quen, nét cằm cương nghị, đôi vai hơi nghiêng nghiêng...

Anh trông rất giống Brian.

Đột nhiên, cô lạnh toát người nhận ra anh giống Brian biết bao nhiêu. Và tên lót của Brian là Mark.

***

Viên chức hãng máy bay với vẻ mặt thông cảm đến mức chuyên nghiệp ngồi cạnh và nắm tay cô.

- Chúng tôi đã cố liên lạc với cô, nhưng di động của cô tắt. Lúc còn trên chuyến bay chồng cô ngã bệnh nặng đột ngột và máy bay phải quay lại London. Có một cô y tá trên chuyến bay và cô ấy đã làm hết sức để cứu anh ấy. Nhưng chúng tôi rất lấy làm tiếc, anh ấy qua đời trước khi máy bay hạ cánh.

Môi cô khô khốc đến nỗi phải cố gắng lắm cô mới mấp máy môi được.

- Lúc nào? - Cuối cùng cô cũng thì thầm nói, có cảm giác thế giới bắt đầu quay mòng xung quanh cô.

- Cách đây khoảng chín mươi phút.

Cách đây khoảng chín mươi phút, cô đón anh chàng đi nhờ xe đang ngồi bên đường.

- Anh ấy có nói gì không?

- Cô y tá kể lại anh ấy chỉ lặp đi lặp lại tên cô... và tên một người đàn ông.

- Mark!

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN (dịch)
______________

Nguyên tác: The hitch-hiker, trích trong tuyển tập "Thirty and fabulous".

Anna Dillon là bút danh của Michael Scott, nhà văn Ireland với nhiều cuốn tiểu thuyết best-seller như Season, Another Season, Season's End, The Affair, Consequences, Lies...