Thứ Hai, 29 tháng 10, 2007

Những hi vọng và sợ hãi của Keane

Keane là tên của một ban nhạc Anh, có phong cách chơi nhạc giống các nhóm Coldplay hoặc Travis, song với một khác biệt rõ nét là dựa vào đàn piano hơn là guitar. Keane từng đoạt hai giải Brit Awards của làng nhạc Anh năm 2005 cùng một giải Ivor Novello năm 2005 dành cho các nhà sáng tác.
Ban nhạc Keane
Tôi hòa vào đám đông gần hai vạn người đứng ngồi kín cả khán phòng O2 Arena ở London để xem buổi biểu diễn của Keane trên sân khấu. Các fan của Keane hầu hết từ 25 đến khoảng 50 tuổi, tầng lớp trung lưu đến thượng lưu.

Nếu các fan của những boyband đều trong độ tuổi vị thành niên tóc nhuộm xanh đỏ ăn mặc đúng mốt tuổi teen, còn các fan của Linkin Park hay Red Hot Chili Peppers rất “giang hồ” xăm trổ đầy mình, thì fan của Keane chững chạc và trầm hơn, không trầm như khán giả nhạc giao hưởng hoặc cổ điển mà trầm kiểu đương đại, cũng giống như thể loại nhạc của Keane. Khán giả của Keane có đời sống sung túc nhưng không theo chủ nghĩa tiêu thụ mà luôn trong hành trình tìm kiếm chính bản thân mình và luôn tự vấn mình là ai trong cuộc đời, như trong bài hát đầu tiên Keane ra mắt trong đĩa đơn và cũng là bài bắt đầu buổi biểu diễn: Everybody's changing (Ai cũng đang thay đổi)

You say you wander your own land

But when I think about it

I don't see how you can

You're aching, you're breaking

And I can see the pain in your eyes

Says everybody's changing

And I don't know why

...

I try to stay awake and remember my name

But everybody's changing

And I don't feel the same

(Bạn nói bạn lang thang trong thế giới của riêng mình

Nhưng khi suy nghĩ về điều đó tôi không hiểu nổi tại sao

Bạn đau đớn, bạn đổ vỡ

Và tôi có thể thấy nỗi đau trong mắt bạn

Như muốn nói ai cũng đang thay đổi

Và tôi không hiểu nổi tại sao.

...

Tôi cố tỉnh táo và cố nhớ tên mình

Nhưng ai cũng đang thay đổi

Còn tôi lại không cùng cảm giác)

Keane gồm ba chàng trai trẻ: Tom Chaplin (28 tuổi, giọng ca chính kiêm đàn piano và guitar), Richard Huges (33 tuổi, trống) và Tim Rice-Oxley (32 tuổi, piano). Lớn lên ở một thị xã nhỏ bé miền nam ít thú tiêu khiển, những thành viên của Keane chập chững bước vào thế giới âm nhạc với công cụ hỗ trợ là chiếc máy nghe nhạc Walkman và cuốn bài hát Beatles. Năm 1999, cả ba và một cựu thành viên là tay guitar Dominic rời miền quê lên London với tham vọng chinh phục thế giới. Sau hai năm không có lấy một hợp đồng thu âm nào, Dominic rời ban nhạc, ba người còn lại vỡ mộng dắt nhau về quê. Không nản chí, Keane đến một nông trại đổ nát ở Pháp tiếp tục thu âm để đầu năm 2003 trở lại London thử thời vận thêm lần nữa.

Các chàng trai trẻ nhớ lại những ngày đó: “Chúng tôi mua thức ăn và xăng cho ngày hôm nay bằng số tiền ít ỏi kiếm được từ buổi biểu diễn đêm hôm trước. Còn lại bao nhiêu tiền cho vào một hộp nhựa đậy kín”. Thời “hàn vi” kéo dài hơn một năm cho đến khi ra đời album đầu tiên Hopes and fears (Những hi vọng và sợ hãi) giữa năm 2004, bán được 5 triệu bản trên toàn thế giới.

Trong buổi biểu diễn tôi đi xem, sau vài bài hát đầu tiên trước đám đông “cuồng nhiệt một cách chững chạc”, ca sĩ chính “cảm ơn London” và tâm sự với khán giả rằng Keane gắn bó với thủ đô nước Anh đến mức nào, từ thời còn hát trước vỏn vẹn vài khán giả đến lúc lên đỉnh cao được ngưỡng mộ khắp nơi. Có một thời sau album đầu tiên, ban nhạc tưởng chừng như tan rã nhưng niềm tin của người hâm mộ đã vực họ dậy. Album thứ hai Under the iron sea (Dưới biển sắt) ra đời năm 2006 được sáng tác để “đối mặt với những nỗi sợ hãi lớn nhất của chúng tôi, để phân tích mối quan hệ giữa các thành viên với nhau, với những người khác và với cả thế giới, cũng như để bắt đầu một cuộc hành trình vào những nơi đen tối nhất chúng tôi tìm thấy được”.

Cũng vì vậy mà Under the iron sea khác cách nhìn thế giới hơi ngây thơ trong Hopes and fears. Những bài hát trong album mới được tạo ra như những câu chuyện “trong thế giới thần tiên bị biến dạng, với cảm giác mơ hồ lẫn lộn của một nơi đen tối dưới một biển sắt khó xuyên qua” như lời tự sự của các thành viên.

Và có lẽ Keane thu hút những khán giả tinh tế nhờ những bài hát không chỉ đơn thuần nói về tình yêu mà còn về thân phận, về chiến tranh và sự đổ vỡ. Trong buổi biểu diễn, trước bài A bad dream (Một giấc mơ buồn), Tom giải thích cho khán giả bài hát này dựa trên bài thơ của William B.Yeats Một phi công người Ailen thấy trước cái chết của mình: “Chúng tôi muốn tạo ra sự cân bằng giữa một chuỗi sự kiện như giấc mơ, bắt đầu một cách lặng lẽ. Cảm giác giống như trên máy bay chiến tranh bay cao trên trời, cao đến nỗi bạn không thể nghe được tiếng súng bên dưới. Và nó gần như một sự im lặng thanh thản mà bài thơ này của Yeats lột tả...”.

Bài hát cũng bắt đầu một cách lặng lẽ:

Why do I have to fly

over every town up and down the line?

I'll die in the clouds above

(Tại sao tôi phải bay cao

Trên đầu những thành phố làng mạc bên dưới?

Tôi sẽ chết giữa những đám mây trên trời)

... nhưng càng về sau càng lớn tiếng và càng giận dữ. “Tiếng piano chói tai ở giữa bài như một cố gắng bộc lộ hết tất cả những giận dữ bùng nổ...” như lời tay piano Rice-Oxley.

I wake up, it's a bad dream,

No one on my side,

I was fighting

But I just feel too tired

to be fighting,

guess I'm not the fighting kind.

Wouldn't mind it

if you were by my side

But you're long gone,

yeah you're long gone now.

(Tôi thức dậy, đó là một giấc mơ buồn

Không ai bên cạnh tôi

Tôi chiến đấu

Nhưng tôi chỉ cảm thấy mệt mỏi

Tôi đoán có lẽ tôi không phải người được sinh ra để chiến đấu.

Có lẽ tôi sẽ không phiền

Nếu bạn bên cạnh tôi.

Nhưng bạn đã ra đi từ lâu

Ừ, bạn đã ra đi từ lâu...)

Buổi biểu diễn kết thúc, cả ba thành viên đã bước vào bên trong nhưng tôi cũng hòa vào tiếng vỗ tay liên hồi kéo dài nhiều phút liền khiến họ phải trở lại sân khấu hát thêm vài bài nữa chiều lòng khán giả. Và bài hát kết thúc Somewhere only we know như làm trái tim mọi người đập rộn rã trong lồng ngực:

And if you have a minute why don't we go

Talk about it somewhere only we know?

This could be the end of everything

So why don't we go

Somewhere only we know?

(Nếu bạn có ít thời gian, tại sao ta không đi đến một nơi

Một nơi chỉ có mình ta biết, để nói về điều ấy

Đây có thể là kết thúc của tất cả mọi thứ

Vậy tại sao ta không đi

Đi đến một nơi chỉ có mình ta biết)

Dù nơi ấy có “những hi vọng và sợ hãi” hay ở “dưới biển sắt” mênh mông, đó là “một nơi chỉ có mình ta biết”. Chỉ có Keane và những người đồng cảm với Keane biết nơi ấy mà thôi.

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2007

“Sóng bạc đầu và núi chìm sâu”...

Tôi không biết mình bị ám ảnh bởi những công trình bằng đá từ khi nào, có lẽ từ năm 21 tuổi, sống một tuần lễ trong tòa lâu đài bằng đá từ thế kỷ 14 ở một nơi xa xôi.

Với tôi, đá là một vật thể vừa xa lạ vừa gần gũi, vừa nóng bỏng vừa lạnh lẽo, vừa liêu trai vừa hiện thực.

Mây phớt nhẹ một lớp mượt mà như thể những con sóng bạc đầu đã phủ cả lên trời, để lại một lớp mỏng bọt sóng màu mây
Đá cũng là tiền thân của nền văn minh nhân loại, vì thế mà có tên “thời kỳ đồ đá”, và những nền văn minh trên thế giới cũng đã tạo nên những công trình kỳ vĩ từ đá để lại cho loài người. Cũng từ đó tôi bắt đầu hành trình khám phá những công trình ấy và đã từng tận mắt nhìn thấy Stonehenge ở Anh, Angkor ở Campuchia, đấu trường La Mã ở Ý, Acropolis ở Hi Lạp... Tất cả đều mang lại cảm giác vừa thích thú vừa sợ hãi, thấy con người nhỏ bé và mong manh.

Cảm giác vừa thích thú vừa sợ hãi đó mạnh mẽ nhất khi tôi đến Giant's Causeway trong chuyến đi Bắc Ireland mới đây. Giant's Causeway, dịch nôm na “lối cao của người khổng lồ”, là hệ thống đá kỳ bí xếp chồng bên biển thành những bậc thang đều đặn đến nỗi ai cũng tưởng do con người xếp đặt nên. Tuy nhiên, khoa học đã khẳng định hiện tượng thiên nhiên này bắt nguồn hơn 60 triệu năm trước từ những chấn động mạnh mẽ của núi lửa. Khi núi lửa phun trào, những dòng nham thạch nóng bỏng chảy tràn, đốt cháy rồi lấp đầy phần núi bên cạnh cũng như những cánh rừng và thung lũng trên núi. Để rồi một triệu năm sau lớp nham thạch đá bazan này mới nguội lại, thu nhỏ thành những khối đá hình lục giác đều đặn bằng nhau. Hai triệu năm sau đó, núi lửa lại phun, lần này lớp nham thạch là một chất hơi khác nên những cột đá tạo thành không đều đặn như lần trước.

Gần đây nhất, khi kết thúc kỷ Băng hà 15.000 năm trước, những tảng băng biển chầm chậm trôi qua những vách đá bazan, xói mòn bờ đá và tạo nên Giant's Causeway của ngày nay.

Từ trên cao nhìn xuống, thật khó tin thiên nhiên có thể tạo ra những bậc đá đều đặn như thế này
Lối đi xuống Giant's Causeway không gian nan khó khăn như tôi nghĩ và chỉ cách đường xe chạy hơn một cây số. Với những ai lười đi bộ, đã có một chuyến xe buýt chuyên phục vụ chở du khách từ trạm dừng xuống dưới rồi lên trên trở lại sau khi tham quan xong. Nhưng vì không muốn chung đoàn với những du khách có ngoại hình như thể cả đời không tập thể dục và luôn ăn ba bữa tại McDonald's hay Burger King, chúng tôi chọn hướng tản bộ. Quả là một lựa chọn đúng đắn vì mặt trời ấm áp chiếu sáng trên đầu, đường đi quanh co một bên vách đá hùng vĩ một bên biển xanh phẳng lặng.

Chỉ sau hơn 15 phút, Giant's Causeway đã hiện ra trước mắt. “Sóng bạc đầu và núi chìm sâu”... Có lẽ không nơi nào câu hát này mang ý nghĩa như nơi đây. Đó là một buổi chiều cuối hè đầu thu, khi đại dương mạnh mẽ dâng trào phủ chồng lên những bờ đá thấp đã từng là núi thuở hồng hoang, bây giờ chìm sâu dưới sóng. Và sóng tung dữ dội trắng xóa. Trời xanh thẳm, mây phớt nhẹ một lớp mỏng mượt mà như thể những con sóng bạc đầu đã phủ cả lên trời, để lại một lớp mỏng bọt sóng màu mây...

Du khách đứng lô nhô trên bờ đá, nắng hắt những bóng người in trên những bậc thang đều chằn chặn. Tôi vơ vẩn nghĩ có thể vài năm nữa, biết đâu Hollywood sẽ chọn nơi này làm bối cảnh cho một bộ phim đầy kịch tính về một đoàn thám hiểm (trong đó có một cô gái xinh đẹp và một chàng trai trẻ lạnh lùng, đúng theo phong cách Hollywood) đi thăm Giant's Causeway vào thế kỷ 21 đúng lúc núi lửa bất thình lình phun trở lại chẳng hạn. Ý nghĩ đó làm trong tôi dấy lên một nỗi lo sợ mơ hồ, thấy con người quả bất lực trước thiên nhiên kỳ ảo và mạnh mẽ. Hải âu bay trên đầu, tiếng kêu chìm khuất trong tiếng sóng ập vào bờ đá.

Tôi đứng trên một trong số bốn vạn cột đá bazan hình thành nên Giant's Causeway, hầu như tất cả đều có bề ngang khoảng 30cm, phần lớn hình lục giác nhưng cũng có một số có năm, bảy, tám hay mười cạnh. Đá ở đây chứa nhiều hàm lượng sắt nên có màu xám xanh rất liêu trai. Phía bên dưới tôi, một cô bé khoảng bốn tuổi đang vừa ôm chặt lưng mẹ vừa nhìn ra biển, em còn quá nhỏ để cảm nhận hết những gì xung quanh mình, em thấy gì ở những bậc thang đá và đại dương mênh mông bên dưới? Tôi hi vọng mẹ em kể cho em nghe huyền thoại về Giant's Causeway, về người khổng lồ Ireland tên Finn MacCool đặt những tảng đá này xuống biển để người yêu sống trên đảo Staffa ở Scotland có thể bước sang thăm. Xem ra huyền thoại đó vui và lãng mạn hơn những giải thích khoa học kia rất nhiều.

Chúng tôi ngồi nghỉ chân giữa một vòm đá cao khuất gió. Khu vực này được gọi là Honeycomb vì những cột đá cao thấp hình dáng như tổ ong, bây giờ tôi mới hiểu vì sao những cửa hàng ở khu vực này đều bán một loại kẹo đặc sản được làm từ mật ong nguyên chất, bột và đường, được nắn giống y khu Honeycomb ở lối cao. Nhớ tới đây, tôi lấy gói kẹo tổ ong vừa mua ra nhấm nháp, nỗi lo sợ mơ hồ ban nãy biến đâu mất, thay vào đó là cảm giác dễ chịu trước đá và biển. Tôi nghiệm ra con người không nên sợ hãi mà nên tôn trọng thiên nhiên.

Nếu biết tôn trọng và không làm hại đến thiên nhiên, không có lý do gì để thiên nhiên chống lại và làm tổn thương con người. Lúc đó tôi mới nhận ra giữa những tảng đá xám cỏ vẫn mọc xanh rờn, và dưới chân tôi hoa cúc dại nở vàng xen lẫn trong cỏ giữa mênh mông đại dương và đá trầm tích. Có khi hoa vẫn nở như thế này từ sau kỷ Băng hà, khi tôi và tất cả du khách ở đây còn chưa là những hạt bụi bay trong trời đất. Và biết đâu Thackeray(*) cũng cảm thấy như tôi khi ông đến thăm Giant's Causeway và để lại câu nói bất hủ: “Khi thế giới được nắn lại và tạo hình từ khối hỗn mang, đây hẳn là phần còn sót lại - những tàn tích của thuở hồng hoang”...

(*) Tác giả cuốn tiểu thuyết Hội chợ phù hoa.

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2007

Thiên đường berry

Tiểu thuyết gia người Mỹ Henry James có một câu nói nổi tiếng: “Summer afternoon... the two most beautiful words in the English language” (Chiều hè... đó là hai từ đẹp nhất trong tiếng Anh).

Quả thật đối với dân phương Tây, đặc biệt là dân Anh quanh năm “chịu trận” gió rét mưa phùn, những ngày hè ngắn ngủi với mặt trời tỏa nắng vàng như mật suốt từ sáng sớm tinh mơ đến gần nửa đêm đúng là thiên đường.

Những trái mâm xôi mới hái tươi rói trên tay
Tôi sinh ra và lớn lên ở một nước nhiệt đới, nắng vàng đối với dân châu Âu hiếm hoi quí báu nhưng tôi thấy cũng bình thường. Vì vậy mùa hè đối với tôi là một thiên đường khác, thiên đường berry.

Berry là từ chung chỉ những quả mọng nước như dâu, mâm xôi, man việt quất... Đến hè, khoảng từ tháng sáu đến đầu tháng chín, berry chín khắp nơi, trái căng bóng tưởng chừng có thể nứt ra bất cứ lúc nào. Có lẽ tôi nên bắt đầu từ những trái dâu sương gắn bó với tôi hơn bất kỳ loại trái cây nào khác (thật ra “dâu sương” là chữ tôi đặt cho blackberry, vì từ điển Anh - Việt gọi chung blackberry và raspberry là trái mâm xôi, trong khi đây là hai loại quả khác nhau).

Thời còn sinh viên đi học ở Southampton, nhà tôi gần một công viên lớn, mọc đầy những bụi dâu sương trái to bằng ngón tay cái, chín đen mọng, mắt dâu nở ra như những giọt sương trong suốt. Mỗi lần mua kem về ăn xong chúng tôi thường rửa sạch hộp kem để dành đi hái dâu sương, mỗi lần hái đầy ắp hộp kem một ký. Lúc mới hái còn tham lam, hái cả những trái vừa mới chín còn một phần đỏ chưa chuyển màu đen hết và còn chua, sau nhiều quá tôi chỉ lựa những trái đen thẫm, múi nở to mọng nước vừa ngọt vừa chua thanh, ăn với kem vani beo béo ngon hết biết.
Mâm xôi lẫn dâu sương ăn với kem lạnh hương rượu và vani thơm nồng

Dâu tươi rải trên bánh phô mai mới nướng

Tôi trở lại Anh vào đúng mùa hè năm nay và thấy mình quả có duyên với dâu sương, trước trạm xe buýt của công ty tôi làm là cả một bụi dâu sương khổng lồ, hoa trắng hồng ong bay vo ve xung quanh, trái chín lúc lỉu mà không ai hái. Lâu lâu đi làm về sớm tôi lại tạt qua, hái nguyên một túi đầy về nhà ăn tráng miệng với kem hoặc yaourt. Ở siêu thị hoặc các cửa hàng trái cây bán dâu sương thường thêm một bảng quảng cáo viết bằng phấn: “Chín dưới ánh mặt trời, mới hái bằng tay”. (Dân châu Âu rất chuộng những gì thuộc về thiên nhiên và làm bằng tay, nhưng tôi tự hỏi dâu sương không hái bằng tay thì hái bằng gì?).

Các bạn chung nhà của tôi rất thích mỗi khi tôi mang món này về và thường bắt chước quảng cáo nói đùa “chín dưới ánh mặt trời, mới hái bằng tay với tất cả tình thương yêu trìu mến”. Đặt những trái dâu sương đen thẫm mọng nước căng tròn vào đĩa sứ, rưới yaourt trắng muốt lên trên trông thật ngon mắt, chỉ nhìn đã có thể tưởng tượng vị dâu sương vỡ ra trong miệng khi cắn. Đặc biệt, dâu sương trong bụi cây tôi hái không trái nào ăn giống trái nào, vị ngọt thanh của mỗi trái mang mỗi sắc thái khác nhau, quyện với yaourt lành lạnh thật hòa hợp.

Những trái dâu sương đen thẫm mọng nước căng tròn, rưới yaourt trắng muốt
Có hình dáng hơi giống dâu sương nhưng màu đỏ tươi, trái mâm xôi (raspberry) không mọc hoang mà phải được trồng. Vườn nhà Alastair bạn tôi ở Harpenden có một bụi lớn, tôi thường mang ủng ra hái vì đất dưới bụi cây sau cơn mưa thường rất nhão và trơn. Rất dễ tìm trái mâm xôi vì màu đỏ nổi bật trên nền lá xanh có răng cưa, trông xa hơi giống lá nho. Đặt những trái mâm xôi tươi rói lăn qua lăn lại, trái chín cây mềm mại trên tay tỏa mùi thơm mát dễ chịu. Chúng tôi đứng cạnh bụi mâm xôi, hái trái nào ăn trái nấy tại vườn tràn ngập nắng, có lần vì ham hái quá bị gai cào xước tay mà không hay biết, vẫn thấy mùa hè châu Âu thật dễ chịu biết bao! Ăn không hết chúng tôi mới mang vào nhà để dành ăn với bánh phô mai mới nướng hoặc với kem lạnh hương rượu thơm nồng vào những buổi chiều hè mặt trời lặn lúc 11g khuya.

Dave, anh bạn chủ nhà của tôi ở London, chưa tới ba mươi tuổi nhưng tay nghề làm vườn “trình độ” như những người trung niên. Mảnh vườn nhỏ nhắn gọn gàng được chia thành từng luống xinh xắn, luống hoa diên vĩ vàng chen tím, luống hoa cúc trắng, luống hoa phong lữ đỏ, luống xà lách xanh rờn, luống đậu, luống bạc hà..., và đặc biệt tôi rất để ý luống dâu tây (strawberry) của anh. Đây có lẽ là loại trái duy nhất đề cập ở đây có ở VN.

Không phải chuộng ngoại và không nói ngoa chút nào: dâu tây ở... Tây ngon hơn dâu tây Đà Lạt rất nhiều: trái căng tròn được mặt trời xối lên những tia nắng hè chuyển màu từ xanh sang đỏ ối. Luống dâu nhà Dave lúp xúp dưới đất trái trĩu xuống đụng cả vào nền rải sỏi, đi không để ý rất dễ giẫm vào và không khỏi xuýt xoa tiếc nuối. Dâu và kem (không phải kem lạnh - ice cream - mà là kem đặc quánh) là món tráng miệng đúng nghĩa của mùa hè, cầm trái dâu đỏ còn nguyên cuống lá quệt vào kem dẻo mịn rồi đưa lên mũi, nghe mùi nắng và gió hè, mùi đất ngai ngái của lùm dâu, mùi những cánh đồng miền quê nước Anh có đàn bò sữa gặm cỏ, rồi cắn ngập răng vào trái dâu thơm mát quyện mùi kem béo ngậy tan trên đầu lưỡi.

Thiên đường berry mùa hè của tôi còn nhiều, nhiều lắm. Những trái dâu xanh (blueberry) màu xanh tím tròn trĩnh to bằng móng tay có núm ở dưới cuống trông thật ngộ. Những trái man việt quất (cranberry) chua thanh nổi tiếng một phần nhờ tên ban nhạc The Cranberries với những bản alternative rock. Những trái dâu rượu vang (elderberry) không ăn được nhưng thường ngâm đường để làm nước trái cây hoặc rượu vang...
Tháng chín, tháng mười đã bắt đầu cuối hè, vào thu, một trong những thú vui đơn giản của tôi là mang hộp ra hái các loại berry, ăn không hết phải làm mứt để ăn dần khi trái mùa. Mứt ở nhà làm bao giờ cũng nhiều trái cây hơn, ít đường hơn mứt làm công nghiệp. Đặc biệt mứt berry của nhà lúc nào cũng có những phần trái cây chưa tan hết, ram ráp trên đầu lưỡi thật ngon, ăn với bánh mì mới nướng kèm bơ vào bữa sáng.

Những hộp mứt thắt nơ xinh xinh để trên chạn bếp ấy như thu gọn cả mùa hè vào trong, để những ngày thu lành lạnh, những ngày đông rét mướt người ăn ngồi nhớ nắng hè. Và đến mùa xuân khi hoa ở những lùm berry bung cánh trắng hồng, những hộp mứt cũng vừa sắp hết. Nhưng có hề gì vì cũng đã sắp đến hè, sắp đến mùa thiên đường berry trở lại thôi.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2007

Và cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn...

Dân Anh gần đây về tới nhà là mở kênh truyền hình BBC News 24 theo dõi xem tình hình khủng bố đến đâu. Nhiều người cho rằng bọn khủng bố không tấn công những thành phố lớn của Anh như Birmingham hay Manchester mà nhắm Glasgow vì muốn “dằn mặt” thủ tướng Anh mới nhậm chức, ông Gordon Brown là người Scotland.

Người dân Anh tụ họp chật kín trên quảng trường trung tâm Trafalgar ở London xem lễ khai mạc vòng đua xe đạp Tour de France ngày 6-7. Ảnh: Reuters

Mấy ngày vừa qua tôi nhận không biết bao nhiêu email của người nhà, bạn bè lo lắng hỏi thăm tình hình London “tên bay, đạn lạc” và nhắc nhở phải cẩn thận khi ra đường, tránh dùng phương tiện công cộng, nếu ở nhà được thì ở nhà luôn đi...

Trời đất, tránh dùng phương tiện công cộng thì đi lại bằng gì? Đi taxi là chuyện không tưởng vì đâu phải ai cũng đi làm gần nhà. Tự lái xe thì mỗi ngày London bắt mỗi chủ ôtô phải trả 8 bảng, tương đương 250.000 đồng, tiền gọi nôm na là “phí kẹt xe” nhằm hạn chế số lượng xe lưu thông trong thành phố giờ cao điểm. Đó là chưa kể phí đậu xe và tiền xăng đắt gần như nhất thế giới. Vậy là dù có sợ khủng bố cách mấy, người người cũng phải bắt xe điện ngầm hay xe buýt mà đi làm.

Trong thuật ngữ marketing có cụm từ “khách hàng mục tiêu”. Nếu bọn khủng bố cũng có khách hàng mục tiêu (sản phẩm tiêu thụ là... bom) thì tôi và lượng hành khách dùng phương tiện công cộng mỗi ngày ắt hẳn là tâm điểm. Hằng ngày tôi phải bắt một chuyến tàu tới King's Cross St. Pancras, bến tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất London, nơi rất nhiều người bị đánh bom chết cách đây hai năm, rồi tiếp tục chạy tất tả bắt chuyến khác đến một trạm xe lửa khác để đi về hướng tây. Nhưng mọi việc rồi cũng đâu vào đấy, riết rồi tôi cũng giống dân Anh, có nghe báo động mặt cũng lạnh như tiền.

Bạn đừng nghe nói vậy mà nghĩ dân Anh quả cảm gan dạ, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Không đâu, dân Anh cũng sợ chết không kém ai. Có điều một phần vì tính cách vốn ít biểu lộ cảm xúc, một phần vì đã quá quen thuộc với những gì đang diễn ra nên trông ai cũng tỉnh như không.

Cách đây gần một tháng, tôi đang đi xe điện ngầm thì loa thông báo gì đó rồi đèn trong toa tắt ngúm. Do đang nghe nhạc từ headphone nên tôi phải hỏi người ngồi cạnh. Ông này nhún vai: “Loa thông báo có nghi ngờ sự cố, biểu mình xuống”. Tôi lật đật bước ra, thấy ông vẫn ngồi yên, mới quay đầu lại hỏi: “Sao ông không xuống?”, ông nhún vai thêm cái nữa: “Tôi sắp trễ rồi, phải tranh thủ đi”. May mà tuyến đó không việc gì, nếu không sau này tôi sẽ phải ân hận sao không can ngăn ông ấy đừng đi.

Còn buổi sáng 30-6, tôi đi từ King's Cross (lại King's Cross) tới Knightbridges, loa thông báo có sự cố nên tàu sẽ không dừng tại Piccadilly Circuss mà đi thẳng; mọi người vẫn tỉnh bơ dừng lại trạm gần nhất để bắt xe buýt đi Piccadilly. Mãi khi về nhà tôi mới biết đêm hôm trước có hai chiếc xe đặt bom tại Piccadilly. Lạy trời!

Một người bạn của tôi mới về từ sân bay Heathrow cho biết ở đó vẫn hoạt động bình thường. Tôi tưởng tượng ngay những màn hình lớn nhấp nháy thông tin những chuyến bay:

Tokyo, New York, Sydney, Zurich, Amsterdam, Dubai, Singapore, Johannesburg... Những màn hình lớn thu gọn cả thế giới trong sân bay. Sau những phập phồng cảnh giác cao độ, mọi thứ đã trở lại quĩ đạo bình thường.
_______________
Viện Công tố hoàng gia Anh xác nhận đã có bằng chứng đầy đủ để buộc tội tên Bilal Abdullah, một trong tám nghi can bị bắt sau các vụ tấn công bất thành tại London và sân bay Glasgow vào các ngày 29 và 30-6.

Với lời buộc tội này, tên Bilal phải ra tòa tại London trong ngày 7-7 với tội danh “âm mưu gây nổ”. Bilal Abdullah là bác sĩ làm việc ở Bệnh viện hoàng gia Alexandra ở Paisley (Scotland), bị cảnh sát bắt ngày 30-6 tại sân bay Glasgow sau khi lái một chiếc xe jeep bốc cháy lao vào sân bay. Tất cả tám nghi can bị bắt cho đến nay đều từng làm việc hoặc đang làm việc tại các bệnh viện trong hệ thống y tế quốc gia Anh.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2007

Giải nhất cuộc thi Thơ tự do - Áo Trắng 1998: Ngô Thị Giáng Uyên

Từng đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác thơ tự do được Áo Trắng tổ chức vào năm 1998, cô gái trẻ Ngô Thị Giáng Uyên có một niềm đam mê đặc biệt dành cho văn thơ.

Tuy chọn nghiệp kinh doanh, nhưng Uyên vẫn không ngừng viết, bằng chứng là hàng chục bài viết của Uyên đã được đăng trên khá nhiều mặt báo trong vài năm trở lại đây.

Gần đây nhất, Uyên đã cho ra đời cuốn du ký châu Âu Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương bán rất chạy và được tái bản đến ba lần trong một thời gian ngắn. Trước khi lên đường trở lại nước Anh sinh sống và làm việc, Uyên đã có cuộc trò chuyện thân mật với Áo Trắng:

Ðã gần 10 năm kể từ khi bài thơ Đã lâu rồi em không còn làm thơ nữa đoạt giải, Uyên có còn nhớ kỷ niệm gì về bài thơ này không?

- Bài thơ ra đời sau một thời gian ngừng viết khá lâu. Hồi còn ở Nha Trang, Uyên ở trọ một mình trên một căn gác nhỏ cạnh xe lửa. Vì thế, ngày nào cũng vài lần nghe tiếng còi tàu giữa khuya của tàu ga. Bẵng đi một thời gian, trong một đêm ở Sài Gòn chợt nghe văng vẳng tiếng tàu nơi xa vọng đến, Uyên choàng tỉnh giấc và cho ra đời bài thơ với những câu cuối: Giữa khuya chợt mình tỉnh giấc/ Nghe tiếng còi tàu buồn như những ngày xưa/ Mới thảng thốt nhận ra/ Đã lâu rồi/ Em không còn làm thơ nữa... Khi nghe tin được giải nhất, Uyên đã rất vui.

* Không biết Uyên “bén duyên” với thơ văn từ lúc nào nhỉ?

- Lúc 10 tuổi, Uyên có bài văn đầu tay Buổi bình minh đăng trên báo Nhi Đồng. Sau đó là bài thơ đầu tay mang tên Hoa giấy với vỏn vẹn 6 câu, 18 chữ. Đó là loài hoa Uyên rất thích vì cánh mỏng manh nhưng rất dễ sống. Để rồi từ đó, lâu lâu lại cho “ra lò” một tác phẩm mới...

* Chắc ngôi nhà của gia đình ngày trước phải đẹp và nên thơ lắm mới mang lại cho Uyên một tâm hồn thơ như thế?

- Đúng là ngôi nhà ngày ấy đã phần nào nuôi dưỡng tâm hồn thơ cho Uyên từ nhỏ. Đó là ngôi nhà ba gian cổ kính, ngói âm dương, với rất nhiều cây cỏ xung quanh khá nên thơ. Trong cuốn Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, Uyên cũng đã dành một phần để miêu tả căn nhà đó trong bài Quê quán tôi xưa.

* Uyên nghĩ sao về văn chương với giới trẻ hiện nay?

- Mỗi người có một sở thích và một niềm đam mê khác nhau. Có người thích hát, có người chơi đàn..., và cũng có người lại thích văn thơ. Vì thế, thơ văn sẽ vẫn còn là cuộc sống tinh thần của một số người có niềm đam mê với nó. Uyên chỉ cảm thấy hơi buồn, vì giờ đây văn thơ thường được xếp phía sau những loại hình giải trí mới. Trong khi đó, ở các nước phát triển, nó được nhiều người rất quan tâm và xem như một giá trị tinh thần không thể thiếu.

* Cơn lốc Internet, đặc biệt là blog đang cuốn lấy cuộc sống của giới trẻ. Và một thuật ngữ mới đã ra đời là “văn chương mạng”. Uyên nghĩ sao về điều này?

- Cái nào cũng có mặt tốt và mặt xấu của nó, Internet không phải là một trường hợp ngoại lệ. Mỗi người cần tỉnh táo để tiếp nhận những cái hay, cái tốt và nói “không” với cái không hay, không tốt. Đọc văn chương mạng, phải biết “đãi cát tìm vàng” và phải dứt khoát không chấp nhận những ngôn từ nửa nạc nửa mở, những từ lóng không đúng chính tả. Và không chỉ giới trẻ, một số người lớn tuổi cũng sử dụng những từ như thế.

* Nhiều người nhận xét giọng văn của Uyên khá trau chuốt, hay “một giọng văn đầy những rung cảm mênh mang nhưng lại cực kỳ tỉnh táo, lạ lắm thay”. Trong khi đó, chưa tính đến chuyện hay hay dở, giới trẻ hiện nay viết văn lại sai chính tả nhiều quá?

- Mọi việc đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Văn của Uyên nếu hay có lẽ do từ nhỏ đã được trau dồi. Còn một bộ phận giới trẻ hiện nay không mấy quan tâm đến vấn đề này, lại bị ảnh hưởng văn chương không đúng chuẩn từ thế giới ảo. Lúc sống ở Anh, Uyên có những người bạn sau khi viết xong một e-mail đều cẩn thận đọc lại kiểm tra từng chữ một trước khi gửi nó đi. Đó không chỉ dừng lại ở việc để không sai lỗi chính tả mà còn là cách thể hiện sự tôn trọng đối với người nhận được thư.

* Uyên có nghĩ rằng cuộc sống hiện nay đã ảnh hưởng phần nào đến không gian thơ của mỗi người?

- Đúng là cuộc sống vội vã hiện nay đã tác động rất lớn đến việc thưởng thức văn thơ của con người. Một số tờ báo dành cho giới trẻ cũng chạy theo những trào lưu mới, những tin tức giải trí tầm thường mà quên đi việc định hướng lối sống của giới trẻ. Điều đó cũng tạo cảm giác chán nản cho những bạn trẻ sáng tác vì không có nơi nhận đăng những tác phẩm nghiêm túc của mình.

* Hiện nay, công việc chính là kinh doanh khá bận rộn, Uyên dành thời gian cho niềm đam mê của mình như thế nào?

- Thường thì kinh doanh và thơ không thể nào đi liền với nhau, vì nó là hai phạm trù khác nhau. Tuy nhiên, ngoài thời gian dành cho công việc, Uyên vẫn đi và viết đấy chứ, nhưng chủ yếu là những bài dạng du ký cho một số tờ báo. Minh chứng về niềm đam mê văn chương vẫn chưa tắt hẳn là cuốn sách Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương vừa xuất bản. Còn đối với thơ thì Uyên tạm gác lại một thời gian. Nhưng chắc chắn một điều, khi sang Anh sinh sống, Uyên sẽ dành thời gian nhiều hơn để sáng tác.

* Còn về Áo Trắng thì sao?

- Thật sự Uyên rất “có duyên” với Áo Trắng và phải cảm ơn Áo Trắng, vì tờ báo như một mái nhà chung cho những người yêu văn chương, đặc biệt là giới trẻ. Áo Trắng đã tạo cảm hứng, động viên những người trẻ như Uyên sáng tác và tạo cầu nối đến độc giả. Chỉ cần nhìn trên mặt bằng báo chí hiện nay, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng hầu như không có khoảng không gian nào dành cho văn thơ. Áo Trắng đã làm được điều mà nhiều tờ báo dành cho giới trẻ không thực hiện được, chắc chắn sẽ được đón chào nồng nhiệt trong lần tái bản này.

* Xin cảm ơn Giáng Uyên rất nhiều về cuộc trao đổi này, và cả lời khen chân thành dành riêng cho Áo Trắng!

PHI LONG thực hiện
____________________
Đã lâu rồi em không làm thơ nữa

Đã lâu rồi em không làm thơ nữa
Về những cơn mưa
Ướt cả lối em về
Những hàng cây không biết tên
Nở hoa vàng góc phố
Và cỏ dại trong vườn
Vỡ vụn sương khuya

***

Dường như ai búng dây đàn
Tiếng guitar khô gầy căn gác gỗ
Và gió
Gió của chiều lùa qua cửa sổ
Lật những câu thơ
Em viết thuở mười ba
Những bài thơ đầy cỏ và hoa
Em bíu tay vào cửa
Tiếng chim rớt sau nhà...

***

Em đứng cuối đường chờ mùa đi qua
Chờ hoài không thấy
Chợt như ai gọi tên
Em ngoái đầu nhìn lại
Chẳng có ai
Mà đường về hun hút xa…

***

Trong giấc mơ
Những bài thơ hóa thành con bướm ma
Bay mất
Giữa khuya giật mình tỉnh giấc
Nghe tiếng còi tàu buồn như những ngày xưa
Mới thảng thốt nhận ra
Đã lâu rồi
Em không làm thơ nữa…
____________________
Hoa giấy

Sáng sớm
Bé thức dậy
Đã thấy
Rợp ngõ nhà
Một giàn hoa
Mỏng như giấy

(Bài thơ đầu tiên làm năm 10 tuổi)

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2007

Tái bản "Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương "


Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương, tập du ký châu Âu của tác giả trẻ Ngô Thị Giáng Uyên, do tủ sách Tuổi Trẻ và NXB Trẻ liên kết thực hiện, vừa được tái bản lần hai chỉ trong vòng hai tháng sau khi phát hành! Trước tết, cuốn sách đã được Fahasa đặt hàng tái bản 1.000 cuốn - bổ sung 5 câu chuyện góp nhặt từ hội nghị châu Âu - và lập tức được tiêu thụ hết, nay lại in thêm.

3.000 cuốn chỉ trong ba tháng, đây có thể là một kỷ lục cho loại sách du ký viết về những cuộc đi xa.

T.Đ.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2007

Verona, phố xá mơ màng...

Tôi không dự định đến Verona trong chuyến đi Ý của mình, nhưng Venice dù yêu kiều xinh đẹp mấy cũng làm tôi chán. Ở đây quá phát triển du lịch và một nơi có lực lượng du khách “hùng hậu” cùng những dịch vụ kéo theo dễ làm bạn cảm thấy mệt mỏi.

Vì vậy, sau ba ngày không gặp được bóng dáng người địa phương nào ở phố cổ có những con kênh xanh với thuyền gondola xuôi dòng, tôi quyết định gửi vali lại chỗ cô lễ tân vui tính ở khách sạn tôi ở, chỉ đem theo ít đồ cần thiết trong ba lô rồi leo lên tàu đi Verona.

Thật không may cho tôi khi đến Verona vào chiều chủ nhật, văn phòng dịch vụ du lịch ở nhà ga đã đóng cửa trong khi tôi không có lấy một cuốn sách hướng dẫn trong tay để tìm chỗ ở qua đêm. Bên ngoài văn phòng có một máy vi tính để truy cập thông tin những khách sạn địa phương (Intranet, không phải Internet), nhưng những khách sạn này giá thấp nhất cũng đã bảy tám chục euro, vượt quá ngân sách của tôi nên tôi đi loanh quanh nhà ga một lúc rồi quay trở lại văn phòng, dí mắt vào sát tấm gương và tình cờ đọc được bảng chỉ dẫn về nhà trọ thanh niên tên Biệt thự Francescatti dán bên trong. Vui mừng, tôi quay ra trạm xe buýt ngồi chờ.

Một gã trẻ tuổi ốm nhom ốm nhách trông bộ dạng không mấy lương thiện đang lảng vảng xung quanh khách chờ xe buýt. Tôi không lạ gì những chuyện như thế này nữa, kinh nghiệm xương máu ở Áo trước giáng sinh đã khiến tôi tâm niệm “Ở đâu cũng có anh hùng. Ở đâu cũng có… thằng khùng thằng điên”, và trở thành chuyên nghiệp trong việc cảnh giác mất cắp, đến nỗi đạo chích Paris hay Venice (những nơi vốn khét tiếng về nạn móc túi du khách) cũng không “làm ăn” được gì với tôi huống chi giang hồ tỉnh lẻ. Tôi liếc xéo gã một cái, ra điều “ta biết rồi, đừng hòng giở trò móc túi ở đây” rồi đeo ba lô ra trước ngực, ôm khư khư vào lòng. Nhắm thấy con mồi không phải tay vừa, gã bỏ đi.

Anh chàng lái xe buýt từ nhà ga trung tâm Verona đến nơi tôi ở cũng như hầu hết những người Ý ở đây, tóc xoăn tít và mặc quần tây áo sơ mi thật lịch lãm, đeo kiếng đen hiệu Gucci trông đẹp trai hơn cả Ben Affleck. Nhưng anh chàng không biết tiếng Anh nên sau một hồi giải thích nơi muốn đến trong vô vọng, tôi bước xuống ngồi ở giữa xe. Thật may mắn, đôi bạn trẻ lên xe cùng lúc với tôi đang đứng với mớ ba lô túi xách to tướng cũng đến cùng nhà trọ nên tôi thở phào nhẹ nhõm. Qua trò chuyện, tôi được biết hai bạn người Hà Lan, vừa đến sân bay Milan Ý vào buổi trưa và đã quyết định không vào thành phố mà đáp xe lửa thẳng đến Verona. Quả là một quyết định đúng đắn vì Milan là một trong những thành phố xấu nhất nước Ý, trừ khi bạn là phóng viên muốn dự tuần lễ thời trang hoặc là cổ động viên bóng đá cuồng nhiệt của Inter hoặc AC Milan, có rất ít lý do để bạn đến nơi này.

Nhà trọ thanh niên Villa Francescatti là một biệt thự cổ duyên dáng nằm trên đồi, trong khu vườn rộng xanh um cây lá và đài phun nước mát rượi bên thảm cỏ tươi tốt mượt mà. Những căn phòng rộng của biệt thự xưa đã được biến thành một dạng ký túc xá sinh viên với những chiếc giường tầng và cửa sổ hướng ra vườn chim hót ríu rít. Bạn phải ở chung với bảy người khác và nhà trọ có lock-out period bắt buộc bạn ra khỏi phòng từ 9g sáng đến 5g chiều, nhưng bù lại phòng ốc ở đây rất sạch sẽ yên tĩnh, không gian trong lành và giá chỉ 13.5 euro mỗi người có cả ăn sáng nên chúng tôi không lấy đó làm phiền.

Buổi sáng đầu tiên bước ra khỏi biệt thự, thấy ban mai trong suốt như một giọt sương. Con đường hẹp quanh co từ ngọn đồi chúng tôi ở vẫn còn ngái ngủ, thưa thớt người, những cửa sổ cạnh bao lơn nở hoa đỏ hoa tím li ti khép hờ. Có tiếng chim hót (không biết có phải từ “bụi mận gai” nào quanh đây) làm lòng tôi thật thư thái nhẹ nhàng, vừa tản bộ vừa ngắm những ngôi nhà Verona tư lự, tường gạch tróc lở vết thời gian và những mái ngói nâu hồng mang vẻ đẹp hài hòa và mơ màng. Biệt thự Francescatti đã có mặt hơn năm trăm năm trước nhưng tuổi đời so với những nhà hàng xóm vẫn còn thua xa. Verona ra đời từ thế kỷ thứ 1 trước công nguyên, và đã được công nhận là di sản UNESCO do những phát triển đô thị trải qua hơn hai thiên niên kỷ vẫn còn giữ lại rất nhiều thành trì, pháo đài thời La Mã cùng những kiến trúc Trung cổ và Phục hưng.

Chúng tôi băng qua cây cầu bắc ngang sông Adige trong xanh bên sườn đồi trồng đầy cây bách reo trong gió sớm. Thành phố sáng đầu tuần vắng lặng, ngay cả ở khu trung tâm. Những ngôi nhà tinh khiết ở đây giống như vừa bước ra từ một bức tranh sơn dầu với những gam màu hồng đậm nhạt pha trắng và ban công bằng sắt uốn lượn như dải lụa. Một tờ báo ở Anh đã gọi Verona là thành phố sắc hồng, quả thật đúng. Màu hồng là chủ đạo trên những ngôi nhà xưa duyên dáng nơi đây. Ngay cả những ngôi nhà sơn màu vàng nhạt hay nâu vẫn điểm những giàn hoa tươi ửng hồng đẫm sương đêm và chiếc xe đạp dựa hờ hững lên tường đá cũng được sơn hồng cánh sen. Cô gái Hà Lan đi cùng thốt lên: “Thích thành phố này quá đi!” và chúng tôi cùng gật đầu đồng ý.

Tôi quyết định chia tay hai bạn để làm một chuyến shopping. Ở Venice gì cũng đắt đỏ và toàn đồ cho du khách nên tôi không mấy hứng thú mua, nhưng ở đây có những shop giản dị và “điền viên” hơn nhiều, bán đồ ăn địa phương: mì vàng ươm, cà phê bột thơm lừng, xí muội kiểu Ý là lạ, hạt sôcôla trắng nhỏ li ti đựng trong túi lưới màu kem cột nơ xinh xắn…, quần áo ở Ý cũng rất đẹp và giá vừa phải (trừ khi bạn muốn mua đồ Armani, Gucci, Versace hay D&G…) nên tôi thích thú rảo một vòng ngó nghiêng những cửa hàng nhỏ nhắn trên đường tĩnh lặng. Sau khi ghé mua một số đồ làm quà cho mình và cho mẹ, cho chị ở nhà, tôi ra lại khu phố chính, đứng tần ngần nhìn những nghệ sĩ lang thang chơi guitar và thổi sáo bên cạnh một shop bán trái cây tươi ngoài vỉa hè.

Đã sang trưa, du khách bắt đầu túa ra từ những khách sạn, nhà nghỉ trong thành phố, Verona đã mất vẻ ngái ngủ ban sáng. Tôi băng qua những con đường hẹp, tình cờ thấy trên ban công căn nhà nhỏ nhắn trong hẻm nhỏ, một bà cụ đang đập bụi hai trăng lưỡi liềm vàng nhồi bông, có lẽ là đồ chơi các cháu nhỏ của bà. Thấy tôi vừa tủm tỉm cười vừa ngước nhìn từ bên ngoài đầu hẻm, bà dừng tay đập, cũng cười với tôi.

Trong lòng vui và nhẹ nhõm, tôi rảo bước đến thăm một trong những sức hút lớn nhất của Verona: nhà nàng Juliet. Nhà soạn kịch lỗi lạc người Anh Shakespeare viết lại “Romeo và Juliet” vào thế kỷ 17, nhưng huyền thoại về tình yêu ngây thơ và mơ mộng của hai người trẻ tuổi đã bắt nguồn ở Verona từ hơn ngàn năm trước đó và đã có mặt trên những truyện ngắn, kịch, thơ của nhiều tác giả khác trên thế giới trước khi Shakespeare ra đời. Bức tường gần cổng vào nhà đầy những dòng chữ nguệch ngoạc của những kẻ đang yêu đến thăm nhà cô gái xinh đẹp, tưởng nhớ một trong những chuyện tình lãng mạn nhất lịch sử nhân loại với kết thúc bi thương do thù hận gia đình. Tôi thích thú đọc chữ “Nhà Juliet” bằng nhiều thứ tiếng trong bảng đá đặt trước nhà, ngộ ra “Juliet’s house” trong tiếng Anh nghe rất “chuyên nghiệp” như đang trong một phi vụ làm ăn, “Juliethaus” tiếng Đức nghe đanh thép làm mất hết vẻ lãng mạn, “Maison de Juliette” tiếng Pháp nghe cũng khá êm đềm, nhưng chỉ tiếng Ý “Casa di Giulietta” mới du dương và thi vị nhất, chỉ bản thân chữ đó cũng đủ làm ta mơ màng hơn cả một bài thơ.

Nhà Juliet lớn nhưng không đồ sộ mà rất xinh xắn, xây bằng gạch nâu xưa đã tróc vôi, những vòm cửa cong cong như trong truyện cổ và ban công nhỏ xíu giản dị. Tôi trả ba euro để được vào trong, trèo lên ban công nhỏ đáng yêu nhìn xuống bức tường dây leo rậm rạp xanh um, tưởng tượng chàng Romeo đẹp trai vẫy tay bên dưới sân. Tôi dụi mắt, không tin vào mắt mình vì có ai đang vẫy tay với tôi bên dưới thật, hay là duyên nợ chăng? Nhưng tôi thất vọng ngay khi nhận ra người vẫy tay là anh chàng Hà Lan đang đi cùng cô bạn gái tôi gặp trên xe buýt hôm qua. Tôi trèo xuống, Romeo rủ: “Ăn trưa ít nên đói bụng quá. Đi ăn thêm không?”

Như đã viết trong bài “Ăn Ý”, đồ ăn ở đây chỗ nào cũng ngon và đầy hương vị. Chúng tôi chỉ ăn đồ ăn nguội mua trong một quầy thức ăn giản dị, nhưng món bánh mì tròn kẹp giăm bông và củ cải chua làm ai cũng tấm tắc khen. Tôi ra ngoài quảng trường Roman Arena nhấm nháp món tráng miệng bánh gừng, làm tôi nhớ lại Alastair ở nhà hay kể chuyện thiếu nhi về anh chàng người bánh gừng (Gingerbread man) chạy từ lò nướng trốn bà cụ nướng bánh: “Run, run as fast as you can. You can’t catch me, I’m a gingerbread man”. “Chạy, chạy nhanh hết sức đi. Cũng không bắt được tôi đâu, tôi là người bánh gừng”.

Roman Arena, một trong những công trình vĩ đại nhất châu Âu, là đấu trường La Mã được xây dựng từ thế kỷ thứ một sau Công nguyên, vào năm cuối cùng của triều đại Augustus, kỳ công đến nỗi trận động đất dữ dội vào thế kỷ 12 tại đây chỉ phá hỏng được một phần bên ngoài. Khi xưa nơi này đã diễn ra nhiều cuộc chiến của các dũng sĩ giác đấu tương tự những cảnh hoành tráng mà ai từng xem bộ phim Gladiator khó có thể quên. Đến thế kỷ 18, đấu trường xây hình elip bằng đá cẩm thạch hồng dài gần 150m ấy được chuyển thành một nơi nhẹ nhàng hơn nhiều: thay vì những cuộc cưỡi ngựa đấu thương là những vở nhạc kịch êm đềm du dương rất Ý. Ngày nay, Roman Arena là nơi tổ chức hòa nhạc và opera thu hút hàng chục ngàn khán giả mỗi đêm; nhưng khi đến, tôi chẳng thấy áp phích giới thiệu chương trình nào, chỉ có một poster quảng cáo lớn bằng một tòa nhà của hãng Lycra có ảnh một cô gái mặc bikini thật hấp dẫn, quả là một ví dụ sống động cho cổ xưa chen lẫn hiện đại. Tôi ngồi nhâm nhi bánh gừng, chợt nghe tiếng nhạc trong vắt đâu đây; quay lại, thấy một nghệ sĩ đường phố trong trang phục quí tộc xưa đang biểu diễn nhạc nước pha lê: Khi ông huơ tay trên những chiếc ly cốc thủy tinh đủ kích cỡ hình thù đựng nước lọc, những âm thanh tinh khiết vang lên như một bản nhạc êm đềm.

Tôi còn lang thang nữa qua phố G Mazzini mua bức tranh khắc nổi hình cô gái múa balê của một người đàn ông Nam Tư, những bánh xà bông thơm nức từ các cửa hiệu nhỏ xinh, rồi đi lạc trong những con phố có mái vòm arcade, những tu viện, giáo đường, nhà thờ trầm mặc, những pháo đài cổ có đôi chim bồ câu đứng gù, rồi trở lại quảng trường Piazza Brà ngắm du khách và người địa phương lười biếng ăn cioccolato (sôcôla) và crostata (bánh trái cây nướng) mới mua được từ những pasticceria xung quanh, trước khi tạt vào một quán cà phê khuất nẻo, nghe cô chủ và những khách người địa phương trong quán nhiệt tình chỉ tôi caffè lungo và caffè Americano gần như là một loại, còn cappuccino phải được uống ấm chứ không quá nóng bỏng sẽ làm mất đi độ ngọt tự nhiên của sữa và độ mịn của bọt (Lạy trời, cả đời tôi không tưởng tượng được một ngày nào đó mình sẽ tinh tế đến mức này).

Tôi đi bộ một mình về chỗ trọ sau một ngày lang thang mỏi chân, băng qua cây cầu cong cong đỏm dáng ban sáng với những ngôi nhà xưa mái ngói ửng hồng có những ô cửa sổ hình chữ nhật soi bóng xuống sông Adige trong xanh. Xung quanh vắng lặng đến khó tin, có lẽ tất cả du khách đã ở hết khu trung tâm thành phố. Những cây tùng cây bách vẫn reo trên mái nhà và những sườn đồi thoai thoải, nhưng cảnh hoàng hôn buông xuống đẹp huy hoàng hơn ban sáng gấp nhiều lần. Ánh mặt trời miền Bắc nước Ý nhuộm cảnh vật một màu óng ả như tơ tằm, như mật, như dầu ô liu nguyên chất, như vàng ròng, hắt xuống mặt nước lăn tăn lấp loáng. Tôi nhìn buổi chiều Verona mơ màng, quên mình đang ở một xứ sở có thực.

Song tiếng xe Vespa rồ ga của cô nàng có gương mặt thanh thoát như thiên thần đang đội nón bảo hiểm phóng vù vù làm tôi giật nảy mình, nhận ra đã đến con hẻm nhỏ dẫn vào nhà trọ Biệt thự Francescatti và mình không phải đang ở trong chuyện cổ tích mà đang ở Ý, “thủ phủ” của những quái xế chạy xe ẩu nhất thế giới. Nhưng có hề chi, đối với tôi Verona vẫn mãi là phố xá mơ màng với những ngôi nhà mái ngói tường vôi in vết thời gian, ban công xinh xinh nhà Juliet và cảnh hoàng hôn nhuộm dòng sông Adige vàng óng ả làm “có người lòng như nắng qua đèo” (*)…

(*) Lời một bài hát của Trịnh Công Sơn