Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2007

Hương lài trên phố Sài Gòn

Trang báo Anh giới thiệu ẩm thực và nụ cười VN
Khi còn làm việc ở tòa nhà Metropolitan trên đường Đồng Khởi, quận 1, buổi trưa tôi thường rủ đồng nghiệp hoặc bạn bè ghé nhà hàng nhỏ này.

Hôm nào không ai rảnh đi ăn chung, tôi đi một mình. Không hẳn vì thức ăn ở đây ngon hơn nơi khác, thực đơn cũng chẳng đa dạng phong phú gì, cũng không hẳn vì nhà hàng cách công ty tôi một quãng đi bộ ngắn qua ngã tư nhộn nhịp xe cộ. Đơn giản chỉ vì tôi “cảm” tinh thần của người chủ nhà hàng xa lạ chưa gặp mặt lần nào và vì quí mến những em phục vụ ở đây.

Tôi rời VN vội vã không kịp ghé quán chào mọi người, và bẵng đi một thời gian bận bịu không nhớ đến căn gác nơi tôi hay ngồi có cửa sổ nhìn xuống đường ấy nữa. Rồi gần nửa năm sau ngày tôi sang Anh, trang Du lịch của tờ Times - nhật báo phổ biến và rất uy tín ở xứ sương mù - mời độc giả bản xứ tham gia viết bài dưới 500 chữ cho chủ đề của tháng mười: ẩm thực.

Tôi dè dặt gửi một bài viết ngắn về quán nhỏ ấy, cứ tưởng sẽ chìm lấp trong những ẩm thực Pháp, Ý, Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa... Không ngờ bài viết được đăng trên tờ Times ra ngày thứ bảy, lại được ưu ái cho vị trí đầu tiên trong loạt bài ít ỏi được đăng báo in. Và còn ưu ái hơn nữa khi tấm hình minh họa duy nhất của nguyên trang Du lịch này có lời chú thích “Bữa tiệc của món ngon: người bán trái cây tại một chợ TP.HCM”, được nhiếp ảnh gia nổi tiếng Ken Gillham chụp một người được bao quanh là bưởi, sầu riêng, nhãn lồng...

Tôi tự dịch bản gốc bài viết tiếng Anh của mình sang tiếng Việt dưới đây như một lời cảm ơn đối với những người đã lặng lẽ làm cho cuộc sống ý nghĩa hơn.
Mặt tiền của nhà hàng Hương Lài
"Tôi khám phá nhà hàng thú vị này một cách tình cờ. Chúng tôi đi bộ lòng vòng tìm một nơi ăn trưa ở trung tâm quận 1, Sài Gòn (tên chính thức: TP.HCM) và bắt gặp tấm bảng hiệu nhỏ xíu "Hương Lài - 38 Lý Tự Trọng - quận 1".


Nhìn từ bên ngoài, trông nó không giống nhà hàng chút nào, có lẽ vì quá hẹp và quá đơn giản. Nhưng sau khi bước lên cầu thang gỗ, căn gác mở ra thành một phòng ăn rất có gu với tường gạch đỏ nâu không quét vôi, ghế mây và những bức thổ cẩm - một loại vải nhiều màu sắc của người dân tộc thiểu số phía Bắc VN - làm duyên trên tường. Không gian thoảng mùi thơm mát dìu dịu của hoa lài tươi nổi trên những chén nước nhỏ đặt ở mỗi bàn ăn. (Tên "Hương Lài" có nghĩa là "scent of jasmine" trong tiếng Việt).


Chúng tôi ăn cơm trắng với tôm rang me, gồm tôm rim nhỏ lửa trong nước mắm và nước cốt trái me nhiệt đới, cà tím nướng mỡ hành thoảng mùi khói, làm từ một loại cà giống aubergine nướng với hành lá và dầu hướng dương. Bữa ăn ngon miệng kết thúc bằng canh gà lá giang, món súp gà kiểu địa phương nấu chung với một loại lá chua thanh mọc hoang trong những bụi rậm ở miền quê. Hóa đơn thanh toán chỉ khoảng năm bảng Anh cho ba người, ngay cả đối với vật giá rất rẻ ở VN, giá cả như thế này cũng rất phải chăng.


Và tôi mến nhà hàng đáng yêu này hơn nữa khi tình cờ biết được đội ngũ phục vụ tươi cười nhã nhặn, mặc quần áo kiểu nông dân của quán đều xuất thân từ trẻ mồ côi hoặc trẻ em đường phố. Bắt đầu từ năm 2001, Hương Lài là dự án của Jin Shirai - một người Nhật đến Sài Gòn học ngôn ngữ và văn hóa Việt. Sau khi về Nhật, ông nhận ra mình gắn bó với đất nước xa lạ đến mức nào và quyết định trở lại làm một điều gì đó có ý nghĩa, bằng cách mở nhà hàng nhỏ để tạo cơ hội việc làm cho những người trẻ địa phương có hoàn cảnh khó khăn.


Các em được học tiếng Anh, được đào tạo về ngành dịch vụ và những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống để trở thành đầu bếp hoặc phục vụ bàn, rất nhiều em trong số đó hiện đang làm việc cho những nhà hàng lớn ở thành phố. Nhà hàng cũng rất mang tính địa phương: rượu vang từ một vùng cao nguyên miền Trung VN, ghế mây, bia Sài Gòn, tranh treo tường của các họa sĩ Việt, chén đĩa được làm bằng tay từ gốm...


Vậy là tôi có thêm lý do để đến đây ăn trưa thường xuyên hơn, để được ngồi trên căn gác ấm áp nhìn thế giới trôi qua dưới những tán cây me lớn trên đường Lý Tự Trọng. Mùi hương hoa lài trên bàn làm tôi tươi tỉnh, thấy lòng nhẹ nhàng và lạc quan hơn. Cho đến lúc đó, tôi mới tin lời các chuyên gia về hương liệu: "Khi nói đến những công dụng về tinh thần, hoa lài thật sự tỏa sáng".


Có lẽ Shirai không biết, và cũng không cần biết "ngôn ngữ hương hoa". Đơn giản ông chỉ muốn tạo ra một điều tốt đẹp giản dị cho Sài Gòn, nơi ông yêu quí và muốn đóng góp một phần nhỏ. Nhưng nhà hàng Hương Lài của ông có ý nghĩa hơn nhiều so với "giá trị làm tăng cảm xúc giác quan" mà bản thân loài hoa này mang lại".
______________

Chú thích: Những chữ in nghiêng trong bài được giữ nguyên bản tiếng Việt trong bài viết trên The Saturday Times, để độc giả bản xứ biết thêm tên những món VN khác ngoài phở và chả giò.

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2007

Khuyến khích mọi ứng viên xuất sắc

Có thể nói Chevening là học bổng qui mô nhất của chính phủ Anh hiện nay, dành cho những ứng viên xuất sắc đến từ 150 nước trên thế giới theo học những chương trình sau đại học tại bất cứ trường nào ở Vương quốc Anh.

Bà Karen Maddocks
Bà Karen Maddocks - đại sứ quán Anh tại Hà Nội, đại diện chương trình Chevening - cho biết: "Số ứng cử viên đáp ứng tiêu chuẩn học bổng luôn nhiều hơn số lượng học bổng mà chúng tôi có mỗi năm. VN có rất nhiều người tài và có kỹ năng mà chúng tôi cần".

* Đã 14 năm kể từ ngày học bổng Chevening lần đầu tiên được cấp tại VN. Có điểm chung nào giữa những ứng viên VN được nhận học bổng trong vòng 14 năm qua?

- Tất cả ứng viên nhận học bổng Chevening từ trước đến nay đều có điểm chung: đó là những người năng động và nhiều hoài bão. Trong quá trình chọn hồ sơ và phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi tìm kiếm những người có tiềm năng sẽ thành đạt ở VN trong tương lai, những người sẽ trở về VN sau khi học xong và tiếp tục cống hiến cho VN.

* Nhiều ứng viên VN rất thông minh nhưng lại ngại ngùng và không cảm thấy thoải mái khi nói về khả năng và thành tích của mình, đó là một bất lợi cho họ khi vào vòng phỏng vấn. Bà có thể đưa ra một lời khuyên?

- Một điều quan trọng cần nhấn mạnh: đối với học bổng Chevening, chúng tôi tuyển những ứng viên không chỉ thông minh mà còn phải tự tin và tập trung vào những gì họ muốn đạt được trong cuộc sống của chính mình.

Chúng tôi không chỉ đơn thuần tìm kiếm những bạn học giỏi, có bảng điểm cao ở trường. Khi nộp hồ sơ, các bạn nên xác định rõ ràng những tham vọng, hoài bão của mình và tự trả lời với chính mình bạn lập kế hoạch đạt được hoài bão đó bằng cách nào, tại sao chương trình học sau đại học ở Anh giúp ích cho hoài bão đó. Nếu các bạn có mục tiêu rõ ràng trong cuộc sống, những phỏng vấn viên của Hội đồng Anh và Đại sứ quán Anh sẽ nhận ra điều này qua những câu trả lời của các bạn, ngay cả khi nhận thấy bạn có hơi căng thẳng lo lắng trong khi phỏng vấn.

* Tại sao trước đây học bổng Chevening không giới hạn tuổi, song những năm gần đây lại có giới hạn ứng cử viên từ 25 - 35 tuổi?

- Giới hạn tuổi chỉ là một thước đo mang tính tương đối. Chúng tôi tìm kiếm những ai vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu trong sự nghiệp, nhưng có thể chứng tỏ được tiềm năng trở thành người thành đạt trong tương lai.

Vì vậy, chúng tôi muốn tuyển những ứng cử viên đã có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực của mình (hơn là sinh viên vừa mới ra trường), và có khả năng đạt được những thành quả quan trọng trong ngành họ theo đuổi sau này. Chúng tôi vẫn sẽ chọn những hồ sơ của những ứng cử viên xuất sắc nằm ngoài giới hạn tuổi nói trên nhưng đáp ứng những yêu cầu khác của học bổng.

* Một số ý kiến cho rằng học bổng Chevening phần lớn dành cho những người làm việc trong các cơ quan nhà nước và các lĩnh vực công, còn những ai làm việc trong lĩnh vực tư, như các công ty đa quốc gia chẳng hạn, có rất ít cơ hội. Điều đó có đúng không, thưa bà?

- Điều này không đúng. Học bổng này không chỉ dành cho viên chức nhà nước hoặc những ai làm việc tại Hà Nội. Chúng tôi rất khuyến khích tất cả những ai làm việc cho mọi lĩnh vực, ở mọi nơi trên cả nước VN nộp hồ sơ thi. Tất cả ứng cử viên đều được đánh giá hoàn toàn dựa trên khả năng, theo tiêu chuẩn của chương trình Chevening.

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN thực hiện
__________
* Hiện học bổng Chevening đang tiếp tục tuyển các ứng viên VN cho năm học 2008-2009. Điều kiện: thành tích học tập khá giỏi hoặc xuất sắc, có tiềm năng thành đạt trong lĩnh vực mình làm việc và đóng góp cho sự phát triển của VN. Độ tuổi thường từ 25 - 35, có ít nhất hai năm kinh nghiệm làm việc và điểm IELTS từ 6.5 trở lên.

* Các thí sinh quan tâm đến học bổng Chevening có thể tìm kiếm thêm thông tin và lấy mẫu hồ sơ trực tiếp tại văn phòng Hội đồng Anh ở Hà Nội hoặc TP.HCM, trên trang web www.chevening.com hoặc liên lạc qua địa chỉ email gam.tran@britishcouncil.org.vn.

Hạn chót nộp hồ sơ: 23-11-2007.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007

Người đi nhờ xe Anna Dillon

Minh họa: Hoàng Tường
Trèo trở lại vào xe, Teri Wilde cài dây an toàn, cười gượng gạo với anh chàng cảnh sát giao thông rồi nhẹ nhàng cho chiếc BMW chạy khỏi lề đường. Phải cố gắng lắm cô mới không nhấn mạnh ga để bắn sỏi dưới bánh xe vào gương mặt anh cảnh sát.

Cô gặp quá đủ phiền hà. Đây đã là lần thứ ba trong tháng cô bị phạt vì chạy quá tốc độ, là lần thứ hai bị phạt bởi chính anh cảnh sát này.

- Cô có biết cô đang lái xe với tốc độ 130km/giờ trên quãng đường chỉ cho phép 120 km/giờ không? - Giọng kẻ cả, anh ta vừa nói vừa nghiêng người nhìn vào xe, phủ lên bầu không khí trong xe một mùi mồ hôi của quần áo chống thấm nước quyện nước hoa nam mùi xạ.

Cô chớp chớp mắt. Phải nói gì bây giờ? “Vâng, tôi biết. Có biết tôi mới lái vậy chứ!”, hay “Không, tôi không biết. Sao anh lại nghĩ tôi lái với tốc độ như vậy?”.

Cô đoán sẽ chẳng có câu trả lời nào được chấp nhận nên chỉ lắc đầu rồi nhún vai. Thậm chí cô chẳng buồn nghĩ ra một lý do bào chữa, chắc anh chàng đã nghe hết cả rồi! Nhìn anh ta rút cuốn sổ ra, cô tự hỏi mình bị bao nhiêu điểm phạt trên bằng lái rồi nhỉ?

Có khi anh chàng ghen tị với cô! Anh ta ngồi đó buồn chán và thấy một chiếc BMW 7 Series màu đỏ vượt quá tốc độ về hướng mình, cầm lái là một cô gái trẻ đẹp, thậm chí nếu cô không chạy quá tốc độ có khi anh ta cũng thổi cô lại chỉ để ngắm một chút. Quá tốc độ 10km/giờ đã là gì đâu. Xe này chạy nhanh hơn nhiều vẫn được, cô biết mà, có lần cô chạy 160km/giờ trên đường vòng Athlone rồi.

Thật bất công. Khi anh chàng cảnh sát đang nói chuyện với cô, hàng tá xe khác chạy băng qua, đèn thắng xe nhấp nháy và bánh xe nghiến trên đường ken két khi người ngồi sau vô-lăng nhận ra có chiếc xe cảnh sát ẩn phía sau chiếc BMW đỏ. Tại sao họ không bị thổi chứ?

Teri liếc nhìn kiếng chiếu hậu. Viên cảnh sát vẫn đứng trên đường nhìn theo cô; cô nghĩ có khi anh ta còn nhăn răng cười. Cô nhăn mặt cáu kỉnh, chắc cô đã đủ điểm phạt để bị treo bằng lái rồi, nhưng có lẽ Brian quen biết ai đó.

Brian luôn luôn quen biết một ai đó.

Vậy cô phải kể chuyện này cho chồng nghe ư? Cô chưa kể cho anh nghe về hai vé phạt lần trước. Nhưng dù sao đi nữa, bây giờ có rất nhiều thứ cô có kể anh nghe nữa đâu.

Teri lái vòng qua chỗ ngoặt khuất tầm mắt viên cảnh sát rồi sang số, nhấn ga sát xuống sàn xe. Chiếc xe lao tới, kim chỉ tới số một trăm, một trăm mười, một trăm hai mươi, một trăm hai lăm cây số giờ. Ít ra cô cũng biết được đoạn đường còn lại không có cảnh sát. Vẫn giữ tốc độ đó, Teri cho xe chạy bon bon. Cô không nghĩ mình chạy quá nhanh: nhiều xe khác còn vượt qua xe cô kia mà.

Nếu bị mất bằng lái, cô sẽ phải báo cho chồng... và Brian sẽ không vui chút nào. Anh sẽ thất vọng ra mặt, lắc đầu và chắt lưỡi - nghĩ tới đó là cô tức điên. Nhiều khi anh quên anh là chồng cô chứ không phải bố cô.

Brian Wilde lớn hơn cô gần hai mươi lăm tuổi và chiều chuộng cô một cách thái quá: mua cho cô tất cả mọi thứ cô muốn - và cả rất nhiều thứ cô không muốn. Chiếc xe này là món quà kỷ niệm sáu năm ngày cưới, đối với anh cô có cần hay muốn một chiếc xe mới không quan trọng. “Ngay lúc nhìn thấy nó, anh biết mình sẽ phải mua nó cho em”, anh nói khi cô phản đối sự phung phí này, rồi thêm “Thấy em vui là anh vui rồi!”.

Cô đã không đáp lại câu nói đó của anh bằng một câu tương tự.

Ba tháng nữa đến kỷ niệm ngày cưới lần thứ bảy. Rất nhiều người đoán cuộc hôn nhân của họ sẽ không kéo dài quá một năm, đó là những người đã nghĩ - không, đã biết thì đúng hơn - rằng Teri lấy Brian vì tiền. Họ thấy khó tin cô thật sự yêu anh. Môi Teri mím lại, cô bất chợt cười khẩy. Cô đã thật sự yêu anh, nhưng câu này ở thì quá khứ. Còn bây giờ?

Mọi thứ thay đổi.

Con người thay đổi.

Họ đã yêu nhau thắm thiết khi cưới, nhưng vài năm trở lại đây, sự khác biệt về lai lịch, giáo dục, sở thích, tuổi tác - những sự khác biệt đã mang họ lại với nhau - đã gây ra những xích mích giữa họ. Mọi thứ anh nói hay làm đều khiến cô phát cáu. Cô cũng bắt đầu nhận ra Brian cũng ngày một bực bội bởi những thói quen mà trước đây anh cho là duyên dáng quyến rũ nơi cô.

Khi làn xe kết thúc và con đường hẹp lại, Teri cho xe chạy chậm chút đỉnh. Đèn báo hiệu mức xăng nhấp nháy và kim trên bảng báo xăng đã chỉ gần đến số zero. Lẽ ra cô đã đổ đầy bình ở trạm xăng gần đây nhất, nhưng vụ bực mình với viên cảnh sát làm cô quên khuấy. Không biết đi được bao nhiêu dặm nữa đây.

Một bảng giao thông hiện ra trước mắt cô: Balbriggan-Drogheda-Dundalk-Belfast. Brian sẽ bay tới Belfast trên chuyến bay từ London sáng nay để kịp buổi họp với các quản lý cụm khách sạn anh sở hữu. Anh muốn tự lái từ Belfast về Dublin, nhưng cô khăng khăng để cô tới sân bay đón anh về. Đến Belfast bằng chiếc BMW của cô chỉ mất chừng hai tiếng đồng hồ, rồi khi chở anh về họ sẽ có vài giờ nói chuyện với nhau. Họ gần như không có thời gian trò chuyện nữa. Khi mới quen nhau tám năm trước, họ có thể nói chuyện suốt ngày, lạy Chúa, họ nói chuyện với nhau về mọi thứ, tất cả mọi thứ. Cô đã thật sự bị mê hoặc bởi kiến thức sâu rộng, bởi kinh nghiệm sống, bởi những câu chuyện du lịch vòng quanh thế giới của anh. Về phần Brian, anh mê mẩn sự sôi nổi, tình yêu cuộc sống của cô, cũng như sự ham học hỏi về rượu, món ăn và kịch nghệ nơi cô, những thứ anh biết rõ nhưng cô chỉ biết lơ mơ về nó cho đến lúc gặp anh. Khoảng cách hai mươi lăm năm tuổi tác gần như là một thế mạnh cho cả hai: họ có thể mang lại cho nhau một điều gì đó thật đặc biệt. Tính cách Brian và Teri cũng trái ngược nhau hoàn toàn, điều đó tạo nên sức hút mạnh mẽ. Sức hút này nhanh chóng biến thành tình cảm rồi trở thành tình yêu, và đến một lúc việc kết hôn trở nên tất yếu.

Teri cau mày. Gần đây, cô thường tự hỏi không biết lúc đó họ có thật sự yêu nhau không. Cô có còn yêu anh không cách đây ba năm, khi cô có một mối tình vụng trộm, rồi cách đây chưa tới một năm, với một mối tình vụng trộm khác? Cả hai mối tình đều là những say mê mãnh liệt nhưng qua nhanh, làm cô vừa hân hoan vừa ghê tởm. Có phải việc cô ngoại tình là một bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa hai người có gì đó không ổn? Cô có thể thoát ra khỏi mối quan hệ này, sẽ dễ dàng hơn nếu cô làm vậy, và đó cũng là một điều chân thật đáng làm. Cô vẫn tiếp tục ở lại với Brian vì cô thật sự mến anh và cũng vì cô đã quá quen với cuộc sống sung sướng. Môi cô mím lại trong một nụ cười cay đắng. Cuộc hôn nhân với Brian đã biến cô thành một người ra sao?

Cô muốn nói với anh. Cô cần nói với anh - không phải để làm anh tổn thương, không bao giờ - mà chỉ để giải thích cuộc hôn nhân đã thoát khỏi tầm kiểm soát của cả hai như thế nào.

Ánh đèn đỏ, cam và vàng của trạm xăng hiện ra bên trái. Cô bấm đèn xi-nhan rồi lái chậm lại, cắt ngang đường rồi tấp vào trạm xăng, bánh xe nghiến ken két, tảng lờ tiếng bóp còi đinh tai của những chiếc xe phía sau.

Anh chàng trẻ tuổi ở trạm xăng chỉ say mê nhìn chiếc BMW ngay cả khi cô ra khỏi xe với chiếc váy hơi kéo lên để lộ một phần đôi chân rám nắng. “Làm ơn đổ đầy bình”, cô dấm dẳn, rồi liếc nhìn chiếc đồng hồ hiệu Dior bé xíu có đính kim cương trên tay: chuyến bay của Brian sẽ hạ cánh trong vòng một tiếng rưỡi nữa, cô rất muốn tới đó đúng giờ. Anh ghét phải chờ đợi.

Khi lái xe khỏi trạm xăng, Teri nhìn thấy người đi nhờ xe.

Anh ta đang ngồi bên đường, trên chiếc ba lô kiểu quân đội, vẻ mặt mệt mỏi và hai vai xuôi xuống chán nản cho thấy anh đã ngồi đó lâu lắm rồi. Anh còn trẻ - dưới 25 tuổi - mái tóc vàng óng buộc túm đuôi ngựa sau lưng. Mặt anh hình trái xoan, mắt xanh da trời nhạt, môi đầy đặn, cằm cương nghị và chiếc áo thun sờn che những bắp thịt vạm vỡ. Anh làm cô nhớ tới một người nào đó, cô không nhớ là ai, có lẽ là một ngôi sao điện ảnh hay ca sĩ thì phải. Cô nhìn kiếng chiếu hậu: anh có liếc nhìn xe cô nhưng rồi nhìn đi hướng khác vì biết khả năng được đi nhờ xe chỉ có một phụ nữ trên đó gần như bằng không. Teri cũng chưa bao giờ cho người lạ đi nhờ.

Cô nhấn còi, bấm đèn xi-nhan rồi lái xe vào lề đường.

Teri quan sát anh từ kiếng chiếu hậu, cô có thể đọc được những biểu lộ tình cảm của anh trên gương mặt: ban đầu là một tia hy vọng lóe lên, rồi sự chần chừ và cuối cùng là cảm giác nhẹ nhõm. Anh cầm ba lô lên rồi nhanh nhẹn chạy đến xe. Teri kéo cửa xe xuống. Khi anh cúi người nhìn vào xe, một lần nữa cô kinh ngạc vì vẻ quen thuộc khác thường của anh. Có lẽ cô đã gặp anh ở đâu đó... ở một bữa tiệc... hay một buổi lễ từ thiện nào chăng?

- Cảm ơn chị đã dừng lại. Tôi muốn đi nhờ xe về hướng Bắc - Anh nói với giọng địa phương của một vùng nào đó mà cô không nhận ra.

- Tôi đi Belfast. Cho giỏ của cậu vào cốp xe đi.

Anh vác chiếc ba lô nặng trịch cho vào cốp xe, rồi phủi bụi trên bộ quần áo.

- Có vẻ như cậu đợi cũng khá lâu rồi hả? - Cô hỏi khi anh trèo vào xe. Anh toát lên mùi xạ và mồ hôi. Rất đàn ông.

- Cảm ơn chị nhiều lắm! Bữa nay ít ai cho đi nhờ xe - Anh trả lời lửng lơ.

- Cậu đi được xa chưa?

- Cũng khá xa. Sau khi tốt nghiệp trung học tôi nghỉ một năm để đi nhờ xe vòng quanh thế giới. Bây giờ tôi đang trên đường về nhà.

Teri nhớ có lần Brian nói với cô anh cũng du lịch vòng quanh thế giới bằng cách đi nhờ xe.

- Sao thích đi kiểu đó vậy? - Cô hỏi anh đúng câu cô đã hỏi chồng.

Anh nhún vai rồi nhe răng cười. Liếc nhìn anh, cô nhận ra anh còn trẻ hơn nhiều so với lúc thoạt nhìn thấy ngồi bên đường. Và cũng khá có duyên.

- Tại sao không? - Anh trả lời đúng câu của Brian lúc trước. Anh xoay người lại - Tôi tên Mark.

- Tôi tên Teri - Cô sang số - Đi nhờ xe vòng quanh thế giới, nghe điên thật!

- Vậy chị chưa bao giờ muốn làm điều gì đó thật điên hay sao, Teri?

- Lúc nào cũng muốn - Cô nói, rồi ngạc nhiên nhận ra vẻ cay đắng trong giọng nói của mình.

- Tại sao chị không muốn? - Anh dựa vào ghế da, hỏi tiếp.

Cô hất đầu cười:

- Ồ Mark, ước gì mọi thứ đơn giản như cậu nghĩ.

- Đơn giản thật mà! Nếu chị muốn làm gì, cứ làm đi. Cứ sống thật với mình.

- Thật sự không đơn giản vậy đâu - Cô khăng khăng - Tôi có chồng rồi, tôi còn trách nhiệm…

- Ồ.

Cô ý thức được anh đang nhìn thẳng vào tay cô.

- Không thấy chị đeo nhẫn.

- Tôi không thích đeo nữ trang - Cô tự vệ.

Trong một chừng mực nào đó, điều này cũng đúng. Nếu cô đeo quá nhiều nữ trang người ta lại càng đoan chắc cô lấy Brian vì tiền. Nhưng thật ra nhẫn cưới chỉ được tháo ra khỏi ngón tay cô khoảng ba năm trước, khi cô ngoại tình lần đầu. Bây giờ cô có thói quen tháo nó ra mỗi khi không có mặt Brian, và thỉnh thoảng ngay cả khi có Brian bên cạnh. Cô không nghĩ Brian nhận thấy, anh quá bận rộn với việc kinh doanh nên không để ý những điều này.

- Tôi lái xe tới Belfast để đón chồng - Cô vội vã thêm.

- Anh ấy quả may mắn.

Teri liếc anh thật sắc, không biết anh có đang mỉa mai hay không:

- Sao cậu nói vậy?

- Không phải người vợ nào cũng chịu lái xe từ Dublin tới Belfast để đón chồng đâu. Chị phải yêu anh ấy nhiều lắm mới làm vậy.

Câu trả lời nhanh - nói cách khác là câu trả lời có sẵn - sẽ là “Đúng rồi, tôi yêu anh ấy”, nhưng có vẻ như sự thật dễ nói hơn:

- Tôi không biết tình cảm của mình cho anh ấy thế nào nữa.

Mark liếc cô thật nhanh, rồi quay mặt nhìn ra cửa sổ xe. Nhìn về hướng anh, Teri thấy gương mặt anh trong kiếng chiếu hậu và một lần nữa thấy ngạc nhiên vì những nét quen thuộc của gương mặt ấy. Cô đã gặp anh ở đâu nhỉ?

- Vậy sao chị lại đi đón anh ấy?

- Tôi muốn nói chuyện với anh ấy. Tôi cần nói chuyện với anh ấy, cho anh ấy biết… tôi đã cảm thấy thế nào trong vài năm trở lại đây. Tôi muốn biết được liệu chúng tôi… - Cô ngừng lại, rồi thêm -… có thể giải quyết được mọi thứ không.

- Có vẻ như chị vẫn còn yêu anh ấy đấy - Mark nói.

Teri mở miệng ra định trả lời, nhưng lại thôi vì không biết phải nói gì. Cô nhấc nhẹ chân khỏi chân ga xe và để kim đồng hồ dao động quanh số 120.

- Một năm du lịch xong rồi, cậu có định tiếp tục đi học không? - Cô lịch sự hỏi, cố chuyển hướng cuộc trò chuyện.

- Dĩ nhiên rồi. Tôi muốn học nhiều thứ lắm, có rất nhiều khóa học tôi muốn ghi danh - Cậu vừa nói vừa cười - Có khi tôi là sinh viên tới năm bốn mươi tuổi!

- Vậy thì tốt! - Teri lơ đãng - Tôi chưa bao giờ thật sự thích đi học. Ngồi trong lớp giờ này sang giờ kia nghe giáo viên giảng bài giọng đều đều làm tôi chán phát khóc lên được. Chỉ tới khi Brian, à đó là tên chồng tôi, dạy tôi nhiều thứ, tôi mới bắt đầu thấy thích học. Hồi đó anh ấy hay trêu tôi vì tôi hỏi nhiều quá - Cô hít một hơi thật sâu - Bây giờ thì anh ấy chẳng buồn dạy tôi gì nữa.

- Vậy chị có buồn hỏi anh ấy gì nữa không?

Teri lắc đầu. Cô đã không hỏi anh gì nữa kể từ ba năm trước.

- Có khi chị phải nghỉ ngơi một thời gian - Mark nói khẽ - Đi du lịch. Dành một ít thời gian riêng cho chính mình.

- Một mình à? - Cô ngạc nhiên hỏi - Tôi không chắc liệu Brian có muốn tôi đi một mình không.

- Chị có bao giờ hỏi anh ấy chưa?

- Chắc là chưa.

- Có khi chị nên hỏi.

- Có khi tôi sẽ hỏi.

- Tôi dám cá anh ấy sẽ khuyên chị nên đi. Nếu anh ấy yêu chị, anh ấy sẽ nói vậy.

Teri gật đầu. Có lẽ Brian sẽ đồng ý, mặc dù thay vì đi một mình, có thể hai người nên đi nghỉ đâu đó với nhau. Một kỳ nghỉ yên tĩnh, không có điện thoại và fax, không có Internet và email. Chỉ có hai người, cùng nhau tìm lại những sức hút ban đầu.

- Chị làm gì để giải trí? - Mark xoay người trên ghế nhìn cô.

- Giải trí? - Một thời gian dài cô đã không nghĩ gì tới “giải trí”. Có vẻ trẻ con thật, cô nghĩ, rồi nói - Tôi đi mua sắm.

- Nhưng chị làm gì chung với chồng chị để giải trí?

Câu trả lời đúng là “Không làm gì hết”, nhưng cô không biết phải nói như thế nào.

Họ lái xe đi trong im lặng. Cô có thể cảm nhận được vẻ chỉ trích không nói ra từ Mark. Cuộc sống của cô có quá rõ ràng không? Xe hơi xa xỉ, quần áo đắt tiền, chồng làm kinh doanh cứ đi xa để lại cô vợ bất mãn ở nhà?

- Cậu không hiểu được đâu, Mark. Cuộc sống không phải lúc nào cũng trông như bề ngoài.

- Có vẻ như chị vẫn ổn mà.

- Tôi không nói về vật chất. Tôi muốn nói về thời gian. Khi tôi ở tuổi cậu - cũng cách đây không lâu lắm đâu - tôi thường nghĩ tôi có tất cả thời gian theo ý mình. Nhưng sau đám cưới, ngay cả trước khi cưới, lúc nào thời gian của tôi cũng bị đòi hỏi phải làm cái này cái kia. Bây giờ có vẻ như tôi chẳng có lúc nào cho riêng mình nữa.

- Ngay cả khi chồng chị đi vắng?

- Đặc biệt khi anh ấy đi vắng. Tôi phải lo chuyện nhà, rồi những ràng buộc xã hội, những tổ chức từ thiện tôi tình nguyện làm. Khi đã leo lên vòng quay, mình khó mà leo xuống được - Cô kết thúc câu nói một cách yếu ớt.

Cũng chiếc vòng quay ấy đã mang lại cho cô mối tình vụng trộm đầu tiên. Khi Brian đi vắng, cô đã giao mình cho guồng xoáy xã hội, lấp đầy những giờ trống bằng những chuyện vớ vẩn và một anh chàng môi giới chứng khoán đẹp trai có một cô vợ tóc vàng và ba đứa con cũng tóc vàng.

- Dĩ nhiên là được. Chị cứ leo xuống vòng quay.

- Cậu chỉ là một đứa trẻ thôi - Cô nổi nóng - Cậu không biết cậu đang nói gì đâu, đơn giản là cậu không hiểu được đâu.

- Có khi tôi hiểu nhiều hơn chị tưởng - Anh nhẹ nhàng - Tôi nghĩ chị đang thấy dằn vặt.

- Dằn vặt? Cậu nói gì kỳ vậy?

- Nói chị đấy! - Mark cười - Chẳng cần phải là Sherlock Holmes cũng biết được chuyện gì đang xảy ra. Chị chẳng bảo tôi chị lái xe về phía Bắc đón chồng để hai người có vài tiếng đồng hồ trò chuyện đó sao. Chị còn nói để có thể giải quyết mọi việc. Có vẻ sẽ là cuộc trò chuyện quan trọng đấy.

Teri lại liếc nhìn anh. Anh thật sự rất đẹp trai. Làn da không một nếp nhăn, răng trắng và đều. Teri lại thấy sự thao thức trước đây trở lại trong lòng. Ước gì mình bằng tuổi cậu ta và cả hai đều tự do như cánh chim không gì ràng buộc. Ngay lúc đó anh quay lại nhìn cô, mắt anh gặp mắt cô, và cô hoàn toàn tin chắc anh biết chính xác cô đang nghĩ gì.

- Tôi thấy chị đang dằn vặt - Mark cười - Chị có làm gì đó. Rồi chị lưỡng lự nửa muốn thú nhận với chồng, nửa muốn im lặng.

Teri mím môi không nói. Cô có nên nói với Brian về hai lần ngoại tình, hay không nói gì và cố giữ gìn cuộc hôn nhân hiện có.

- Có khi anh ấy biết đấy! - Mark nói khẽ, không nhìn cô.

- Ý cậu muốn nói gì? - Cô gặng.

- Chị có nói anh ấy thông minh và thành đạt mà. Có khi anh ấy biết hết và chỉ chờ chị thú nhận thôi.

- Cậu học ngành tâm lý học phải không? - Cô cáu kỉnh.

- Không, học kinh doanh.

- Brian cũng học khoa kinh doanh. Tôi ngoại tình một lần, không, hai lần - Cô khẽ nói, cảm thấy bị sốc vì đã thú nhận điều này với một người lạ - Cậu có nghĩ anh ấy sẽ tha thứ không?

- Anh ấy có yêu chị không? - Mark hỏi, rất nhẹ nhàng.

- Có - Teri thừa nhận.

- Nếu chị thành thật nói với anh ấy, anh ấy sẽ tha thứ đấy. Khi yêu, người ta có thể tha thứ cho nhau mọi điều.

Teri im lặng suốt vài dặm đường, rồi gật đầu:

- Cậu nói đúng. Tôi sẽ bảo anh ấy. Trước khi nói chuyện với cậu, tôi sợ không dám nói cho anh ấy biết vì không muốn làm anh ấy tổn thương.

- Nếu anh ấy đã biết rồi, thì khi chị không nói anh ấy càng tổn thương hơn.

- Cậu khá sâu sắc đối với một sinh viên khoa kinh doanh đấy.

- Kinh doanh là cuộc sống - Anh nói nhỏ, gần như thì thầm - Hiểu một điều, rồi sẽ hiểu điều tiếp theo.

- Brian cũng nói y như cậu vậy - Cô nói.

***

Họ lái xe trong im lặng. Có lẽ anh chàng đi nhờ xe đang gà gật ngủ. Teri thấy mừng vì đã cho anh đi nhờ, anh nói đúng: cô cần phải thành thật với Brian. Cô sẽ thú nhận tất cả với chồng. Và nếu Brian và cô phải chia tay, cô sẽ làm những điều Mark đề nghị: bước ra khỏi vòng quay cuộc sống và dành một ít thời gian cho chính mình.

- Cậu muốn tôi cho cậu xuống chỗ nào? - Cô hỏi khi thấy anh cựa mình trên ghế.

- Chị lái xe tới sân bay đúng không? Vậy được rồi, tôi sẽ xuống đó.

Cô bật cười:

- Cậu không đi nhờ máy bay được đâu đấy nhé!

- À không - Anh nói rồi tiếp tục nhìn ra cửa xe.

Sự im lặng của anh bắt đầu làm cô thấy không thoải mái.

Chiếc BMW lăn bánh vào bãi đậu xe, cô liếc nhìn đồng hồ. Chuyến bay của Brian có lẽ đã hạ cánh rồi, cô phải nhanh lên mới được.

- Cậu lấy giỏ đi - Sốt ruột, cô vừa leo khỏi xe vừa nói, chờ đợi người ngồi cạnh cũng sẽ bước ra từ phía ghế bên kia.

Nhưng khi cô đi một vòng quanh xe, không thấy anh đâu.

Anh cũng không còn ngồi chỗ ghế xe cạnh cô. Cô bối rối nhìn xung quanh, gọi “Mark, Mark”.

Teri liếc nhìn vào trong cốp xe. Không thấy ba lô của anh. Anh đi đâu rồi? Cô không nghĩ anh chỉ lấy giỏ rồi đi mà không nói một lời nào như vậy.

Teri dập cốp xe lại rồi đi bộ vào khu vực đón khách ở sân bay. Hay là cô đã tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ này, hay là mơ thấy nó? Nhưng mọi thứ đều không thể thật hơn. Cô còn nghe cả mùi mồ hôi của anh, cả tiếng cười pha trò của anh nữa. Trông anh cũng thật quen, nét cằm cương nghị, đôi vai hơi nghiêng nghiêng...

Anh trông rất giống Brian.

Đột nhiên, cô lạnh toát người nhận ra anh giống Brian biết bao nhiêu. Và tên lót của Brian là Mark.

***

Viên chức hãng máy bay với vẻ mặt thông cảm đến mức chuyên nghiệp ngồi cạnh và nắm tay cô.

- Chúng tôi đã cố liên lạc với cô, nhưng di động của cô tắt. Lúc còn trên chuyến bay chồng cô ngã bệnh nặng đột ngột và máy bay phải quay lại London. Có một cô y tá trên chuyến bay và cô ấy đã làm hết sức để cứu anh ấy. Nhưng chúng tôi rất lấy làm tiếc, anh ấy qua đời trước khi máy bay hạ cánh.

Môi cô khô khốc đến nỗi phải cố gắng lắm cô mới mấp máy môi được.

- Lúc nào? - Cuối cùng cô cũng thì thầm nói, có cảm giác thế giới bắt đầu quay mòng xung quanh cô.

- Cách đây khoảng chín mươi phút.

Cách đây khoảng chín mươi phút, cô đón anh chàng đi nhờ xe đang ngồi bên đường.

- Anh ấy có nói gì không?

- Cô y tá kể lại anh ấy chỉ lặp đi lặp lại tên cô... và tên một người đàn ông.

- Mark!

NGÔ THỊ GIÁNG UYÊN (dịch)
______________

Nguyên tác: The hitch-hiker, trích trong tuyển tập "Thirty and fabulous".

Anna Dillon là bút danh của Michael Scott, nhà văn Ireland với nhiều cuốn tiểu thuyết best-seller như Season, Another Season, Season's End, The Affair, Consequences, Lies...

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2007

Những hi vọng và sợ hãi của Keane

Keane là tên của một ban nhạc Anh, có phong cách chơi nhạc giống các nhóm Coldplay hoặc Travis, song với một khác biệt rõ nét là dựa vào đàn piano hơn là guitar. Keane từng đoạt hai giải Brit Awards của làng nhạc Anh năm 2005 cùng một giải Ivor Novello năm 2005 dành cho các nhà sáng tác.
Ban nhạc Keane
Tôi hòa vào đám đông gần hai vạn người đứng ngồi kín cả khán phòng O2 Arena ở London để xem buổi biểu diễn của Keane trên sân khấu. Các fan của Keane hầu hết từ 25 đến khoảng 50 tuổi, tầng lớp trung lưu đến thượng lưu.

Nếu các fan của những boyband đều trong độ tuổi vị thành niên tóc nhuộm xanh đỏ ăn mặc đúng mốt tuổi teen, còn các fan của Linkin Park hay Red Hot Chili Peppers rất “giang hồ” xăm trổ đầy mình, thì fan của Keane chững chạc và trầm hơn, không trầm như khán giả nhạc giao hưởng hoặc cổ điển mà trầm kiểu đương đại, cũng giống như thể loại nhạc của Keane. Khán giả của Keane có đời sống sung túc nhưng không theo chủ nghĩa tiêu thụ mà luôn trong hành trình tìm kiếm chính bản thân mình và luôn tự vấn mình là ai trong cuộc đời, như trong bài hát đầu tiên Keane ra mắt trong đĩa đơn và cũng là bài bắt đầu buổi biểu diễn: Everybody's changing (Ai cũng đang thay đổi)

You say you wander your own land

But when I think about it

I don't see how you can

You're aching, you're breaking

And I can see the pain in your eyes

Says everybody's changing

And I don't know why

...

I try to stay awake and remember my name

But everybody's changing

And I don't feel the same

(Bạn nói bạn lang thang trong thế giới của riêng mình

Nhưng khi suy nghĩ về điều đó tôi không hiểu nổi tại sao

Bạn đau đớn, bạn đổ vỡ

Và tôi có thể thấy nỗi đau trong mắt bạn

Như muốn nói ai cũng đang thay đổi

Và tôi không hiểu nổi tại sao.

...

Tôi cố tỉnh táo và cố nhớ tên mình

Nhưng ai cũng đang thay đổi

Còn tôi lại không cùng cảm giác)

Keane gồm ba chàng trai trẻ: Tom Chaplin (28 tuổi, giọng ca chính kiêm đàn piano và guitar), Richard Huges (33 tuổi, trống) và Tim Rice-Oxley (32 tuổi, piano). Lớn lên ở một thị xã nhỏ bé miền nam ít thú tiêu khiển, những thành viên của Keane chập chững bước vào thế giới âm nhạc với công cụ hỗ trợ là chiếc máy nghe nhạc Walkman và cuốn bài hát Beatles. Năm 1999, cả ba và một cựu thành viên là tay guitar Dominic rời miền quê lên London với tham vọng chinh phục thế giới. Sau hai năm không có lấy một hợp đồng thu âm nào, Dominic rời ban nhạc, ba người còn lại vỡ mộng dắt nhau về quê. Không nản chí, Keane đến một nông trại đổ nát ở Pháp tiếp tục thu âm để đầu năm 2003 trở lại London thử thời vận thêm lần nữa.

Các chàng trai trẻ nhớ lại những ngày đó: “Chúng tôi mua thức ăn và xăng cho ngày hôm nay bằng số tiền ít ỏi kiếm được từ buổi biểu diễn đêm hôm trước. Còn lại bao nhiêu tiền cho vào một hộp nhựa đậy kín”. Thời “hàn vi” kéo dài hơn một năm cho đến khi ra đời album đầu tiên Hopes and fears (Những hi vọng và sợ hãi) giữa năm 2004, bán được 5 triệu bản trên toàn thế giới.

Trong buổi biểu diễn tôi đi xem, sau vài bài hát đầu tiên trước đám đông “cuồng nhiệt một cách chững chạc”, ca sĩ chính “cảm ơn London” và tâm sự với khán giả rằng Keane gắn bó với thủ đô nước Anh đến mức nào, từ thời còn hát trước vỏn vẹn vài khán giả đến lúc lên đỉnh cao được ngưỡng mộ khắp nơi. Có một thời sau album đầu tiên, ban nhạc tưởng chừng như tan rã nhưng niềm tin của người hâm mộ đã vực họ dậy. Album thứ hai Under the iron sea (Dưới biển sắt) ra đời năm 2006 được sáng tác để “đối mặt với những nỗi sợ hãi lớn nhất của chúng tôi, để phân tích mối quan hệ giữa các thành viên với nhau, với những người khác và với cả thế giới, cũng như để bắt đầu một cuộc hành trình vào những nơi đen tối nhất chúng tôi tìm thấy được”.

Cũng vì vậy mà Under the iron sea khác cách nhìn thế giới hơi ngây thơ trong Hopes and fears. Những bài hát trong album mới được tạo ra như những câu chuyện “trong thế giới thần tiên bị biến dạng, với cảm giác mơ hồ lẫn lộn của một nơi đen tối dưới một biển sắt khó xuyên qua” như lời tự sự của các thành viên.

Và có lẽ Keane thu hút những khán giả tinh tế nhờ những bài hát không chỉ đơn thuần nói về tình yêu mà còn về thân phận, về chiến tranh và sự đổ vỡ. Trong buổi biểu diễn, trước bài A bad dream (Một giấc mơ buồn), Tom giải thích cho khán giả bài hát này dựa trên bài thơ của William B.Yeats Một phi công người Ailen thấy trước cái chết của mình: “Chúng tôi muốn tạo ra sự cân bằng giữa một chuỗi sự kiện như giấc mơ, bắt đầu một cách lặng lẽ. Cảm giác giống như trên máy bay chiến tranh bay cao trên trời, cao đến nỗi bạn không thể nghe được tiếng súng bên dưới. Và nó gần như một sự im lặng thanh thản mà bài thơ này của Yeats lột tả...”.

Bài hát cũng bắt đầu một cách lặng lẽ:

Why do I have to fly

over every town up and down the line?

I'll die in the clouds above

(Tại sao tôi phải bay cao

Trên đầu những thành phố làng mạc bên dưới?

Tôi sẽ chết giữa những đám mây trên trời)

... nhưng càng về sau càng lớn tiếng và càng giận dữ. “Tiếng piano chói tai ở giữa bài như một cố gắng bộc lộ hết tất cả những giận dữ bùng nổ...” như lời tay piano Rice-Oxley.

I wake up, it's a bad dream,

No one on my side,

I was fighting

But I just feel too tired

to be fighting,

guess I'm not the fighting kind.

Wouldn't mind it

if you were by my side

But you're long gone,

yeah you're long gone now.

(Tôi thức dậy, đó là một giấc mơ buồn

Không ai bên cạnh tôi

Tôi chiến đấu

Nhưng tôi chỉ cảm thấy mệt mỏi

Tôi đoán có lẽ tôi không phải người được sinh ra để chiến đấu.

Có lẽ tôi sẽ không phiền

Nếu bạn bên cạnh tôi.

Nhưng bạn đã ra đi từ lâu

Ừ, bạn đã ra đi từ lâu...)

Buổi biểu diễn kết thúc, cả ba thành viên đã bước vào bên trong nhưng tôi cũng hòa vào tiếng vỗ tay liên hồi kéo dài nhiều phút liền khiến họ phải trở lại sân khấu hát thêm vài bài nữa chiều lòng khán giả. Và bài hát kết thúc Somewhere only we know như làm trái tim mọi người đập rộn rã trong lồng ngực:

And if you have a minute why don't we go

Talk about it somewhere only we know?

This could be the end of everything

So why don't we go

Somewhere only we know?

(Nếu bạn có ít thời gian, tại sao ta không đi đến một nơi

Một nơi chỉ có mình ta biết, để nói về điều ấy

Đây có thể là kết thúc của tất cả mọi thứ

Vậy tại sao ta không đi

Đi đến một nơi chỉ có mình ta biết)

Dù nơi ấy có “những hi vọng và sợ hãi” hay ở “dưới biển sắt” mênh mông, đó là “một nơi chỉ có mình ta biết”. Chỉ có Keane và những người đồng cảm với Keane biết nơi ấy mà thôi.

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2007

“Sóng bạc đầu và núi chìm sâu”...

Tôi không biết mình bị ám ảnh bởi những công trình bằng đá từ khi nào, có lẽ từ năm 21 tuổi, sống một tuần lễ trong tòa lâu đài bằng đá từ thế kỷ 14 ở một nơi xa xôi.

Với tôi, đá là một vật thể vừa xa lạ vừa gần gũi, vừa nóng bỏng vừa lạnh lẽo, vừa liêu trai vừa hiện thực.

Mây phớt nhẹ một lớp mượt mà như thể những con sóng bạc đầu đã phủ cả lên trời, để lại một lớp mỏng bọt sóng màu mây
Đá cũng là tiền thân của nền văn minh nhân loại, vì thế mà có tên “thời kỳ đồ đá”, và những nền văn minh trên thế giới cũng đã tạo nên những công trình kỳ vĩ từ đá để lại cho loài người. Cũng từ đó tôi bắt đầu hành trình khám phá những công trình ấy và đã từng tận mắt nhìn thấy Stonehenge ở Anh, Angkor ở Campuchia, đấu trường La Mã ở Ý, Acropolis ở Hi Lạp... Tất cả đều mang lại cảm giác vừa thích thú vừa sợ hãi, thấy con người nhỏ bé và mong manh.

Cảm giác vừa thích thú vừa sợ hãi đó mạnh mẽ nhất khi tôi đến Giant's Causeway trong chuyến đi Bắc Ireland mới đây. Giant's Causeway, dịch nôm na “lối cao của người khổng lồ”, là hệ thống đá kỳ bí xếp chồng bên biển thành những bậc thang đều đặn đến nỗi ai cũng tưởng do con người xếp đặt nên. Tuy nhiên, khoa học đã khẳng định hiện tượng thiên nhiên này bắt nguồn hơn 60 triệu năm trước từ những chấn động mạnh mẽ của núi lửa. Khi núi lửa phun trào, những dòng nham thạch nóng bỏng chảy tràn, đốt cháy rồi lấp đầy phần núi bên cạnh cũng như những cánh rừng và thung lũng trên núi. Để rồi một triệu năm sau lớp nham thạch đá bazan này mới nguội lại, thu nhỏ thành những khối đá hình lục giác đều đặn bằng nhau. Hai triệu năm sau đó, núi lửa lại phun, lần này lớp nham thạch là một chất hơi khác nên những cột đá tạo thành không đều đặn như lần trước.

Gần đây nhất, khi kết thúc kỷ Băng hà 15.000 năm trước, những tảng băng biển chầm chậm trôi qua những vách đá bazan, xói mòn bờ đá và tạo nên Giant's Causeway của ngày nay.

Từ trên cao nhìn xuống, thật khó tin thiên nhiên có thể tạo ra những bậc đá đều đặn như thế này
Lối đi xuống Giant's Causeway không gian nan khó khăn như tôi nghĩ và chỉ cách đường xe chạy hơn một cây số. Với những ai lười đi bộ, đã có một chuyến xe buýt chuyên phục vụ chở du khách từ trạm dừng xuống dưới rồi lên trên trở lại sau khi tham quan xong. Nhưng vì không muốn chung đoàn với những du khách có ngoại hình như thể cả đời không tập thể dục và luôn ăn ba bữa tại McDonald's hay Burger King, chúng tôi chọn hướng tản bộ. Quả là một lựa chọn đúng đắn vì mặt trời ấm áp chiếu sáng trên đầu, đường đi quanh co một bên vách đá hùng vĩ một bên biển xanh phẳng lặng.

Chỉ sau hơn 15 phút, Giant's Causeway đã hiện ra trước mắt. “Sóng bạc đầu và núi chìm sâu”... Có lẽ không nơi nào câu hát này mang ý nghĩa như nơi đây. Đó là một buổi chiều cuối hè đầu thu, khi đại dương mạnh mẽ dâng trào phủ chồng lên những bờ đá thấp đã từng là núi thuở hồng hoang, bây giờ chìm sâu dưới sóng. Và sóng tung dữ dội trắng xóa. Trời xanh thẳm, mây phớt nhẹ một lớp mỏng mượt mà như thể những con sóng bạc đầu đã phủ cả lên trời, để lại một lớp mỏng bọt sóng màu mây...

Du khách đứng lô nhô trên bờ đá, nắng hắt những bóng người in trên những bậc thang đều chằn chặn. Tôi vơ vẩn nghĩ có thể vài năm nữa, biết đâu Hollywood sẽ chọn nơi này làm bối cảnh cho một bộ phim đầy kịch tính về một đoàn thám hiểm (trong đó có một cô gái xinh đẹp và một chàng trai trẻ lạnh lùng, đúng theo phong cách Hollywood) đi thăm Giant's Causeway vào thế kỷ 21 đúng lúc núi lửa bất thình lình phun trở lại chẳng hạn. Ý nghĩ đó làm trong tôi dấy lên một nỗi lo sợ mơ hồ, thấy con người quả bất lực trước thiên nhiên kỳ ảo và mạnh mẽ. Hải âu bay trên đầu, tiếng kêu chìm khuất trong tiếng sóng ập vào bờ đá.

Tôi đứng trên một trong số bốn vạn cột đá bazan hình thành nên Giant's Causeway, hầu như tất cả đều có bề ngang khoảng 30cm, phần lớn hình lục giác nhưng cũng có một số có năm, bảy, tám hay mười cạnh. Đá ở đây chứa nhiều hàm lượng sắt nên có màu xám xanh rất liêu trai. Phía bên dưới tôi, một cô bé khoảng bốn tuổi đang vừa ôm chặt lưng mẹ vừa nhìn ra biển, em còn quá nhỏ để cảm nhận hết những gì xung quanh mình, em thấy gì ở những bậc thang đá và đại dương mênh mông bên dưới? Tôi hi vọng mẹ em kể cho em nghe huyền thoại về Giant's Causeway, về người khổng lồ Ireland tên Finn MacCool đặt những tảng đá này xuống biển để người yêu sống trên đảo Staffa ở Scotland có thể bước sang thăm. Xem ra huyền thoại đó vui và lãng mạn hơn những giải thích khoa học kia rất nhiều.

Chúng tôi ngồi nghỉ chân giữa một vòm đá cao khuất gió. Khu vực này được gọi là Honeycomb vì những cột đá cao thấp hình dáng như tổ ong, bây giờ tôi mới hiểu vì sao những cửa hàng ở khu vực này đều bán một loại kẹo đặc sản được làm từ mật ong nguyên chất, bột và đường, được nắn giống y khu Honeycomb ở lối cao. Nhớ tới đây, tôi lấy gói kẹo tổ ong vừa mua ra nhấm nháp, nỗi lo sợ mơ hồ ban nãy biến đâu mất, thay vào đó là cảm giác dễ chịu trước đá và biển. Tôi nghiệm ra con người không nên sợ hãi mà nên tôn trọng thiên nhiên.

Nếu biết tôn trọng và không làm hại đến thiên nhiên, không có lý do gì để thiên nhiên chống lại và làm tổn thương con người. Lúc đó tôi mới nhận ra giữa những tảng đá xám cỏ vẫn mọc xanh rờn, và dưới chân tôi hoa cúc dại nở vàng xen lẫn trong cỏ giữa mênh mông đại dương và đá trầm tích. Có khi hoa vẫn nở như thế này từ sau kỷ Băng hà, khi tôi và tất cả du khách ở đây còn chưa là những hạt bụi bay trong trời đất. Và biết đâu Thackeray(*) cũng cảm thấy như tôi khi ông đến thăm Giant's Causeway và để lại câu nói bất hủ: “Khi thế giới được nắn lại và tạo hình từ khối hỗn mang, đây hẳn là phần còn sót lại - những tàn tích của thuở hồng hoang”...

(*) Tác giả cuốn tiểu thuyết Hội chợ phù hoa.

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2007

Thiên đường berry

Tiểu thuyết gia người Mỹ Henry James có một câu nói nổi tiếng: “Summer afternoon... the two most beautiful words in the English language” (Chiều hè... đó là hai từ đẹp nhất trong tiếng Anh).

Quả thật đối với dân phương Tây, đặc biệt là dân Anh quanh năm “chịu trận” gió rét mưa phùn, những ngày hè ngắn ngủi với mặt trời tỏa nắng vàng như mật suốt từ sáng sớm tinh mơ đến gần nửa đêm đúng là thiên đường.

Những trái mâm xôi mới hái tươi rói trên tay
Tôi sinh ra và lớn lên ở một nước nhiệt đới, nắng vàng đối với dân châu Âu hiếm hoi quí báu nhưng tôi thấy cũng bình thường. Vì vậy mùa hè đối với tôi là một thiên đường khác, thiên đường berry.

Berry là từ chung chỉ những quả mọng nước như dâu, mâm xôi, man việt quất... Đến hè, khoảng từ tháng sáu đến đầu tháng chín, berry chín khắp nơi, trái căng bóng tưởng chừng có thể nứt ra bất cứ lúc nào. Có lẽ tôi nên bắt đầu từ những trái dâu sương gắn bó với tôi hơn bất kỳ loại trái cây nào khác (thật ra “dâu sương” là chữ tôi đặt cho blackberry, vì từ điển Anh - Việt gọi chung blackberry và raspberry là trái mâm xôi, trong khi đây là hai loại quả khác nhau).

Thời còn sinh viên đi học ở Southampton, nhà tôi gần một công viên lớn, mọc đầy những bụi dâu sương trái to bằng ngón tay cái, chín đen mọng, mắt dâu nở ra như những giọt sương trong suốt. Mỗi lần mua kem về ăn xong chúng tôi thường rửa sạch hộp kem để dành đi hái dâu sương, mỗi lần hái đầy ắp hộp kem một ký. Lúc mới hái còn tham lam, hái cả những trái vừa mới chín còn một phần đỏ chưa chuyển màu đen hết và còn chua, sau nhiều quá tôi chỉ lựa những trái đen thẫm, múi nở to mọng nước vừa ngọt vừa chua thanh, ăn với kem vani beo béo ngon hết biết.
Mâm xôi lẫn dâu sương ăn với kem lạnh hương rượu và vani thơm nồng

Dâu tươi rải trên bánh phô mai mới nướng

Tôi trở lại Anh vào đúng mùa hè năm nay và thấy mình quả có duyên với dâu sương, trước trạm xe buýt của công ty tôi làm là cả một bụi dâu sương khổng lồ, hoa trắng hồng ong bay vo ve xung quanh, trái chín lúc lỉu mà không ai hái. Lâu lâu đi làm về sớm tôi lại tạt qua, hái nguyên một túi đầy về nhà ăn tráng miệng với kem hoặc yaourt. Ở siêu thị hoặc các cửa hàng trái cây bán dâu sương thường thêm một bảng quảng cáo viết bằng phấn: “Chín dưới ánh mặt trời, mới hái bằng tay”. (Dân châu Âu rất chuộng những gì thuộc về thiên nhiên và làm bằng tay, nhưng tôi tự hỏi dâu sương không hái bằng tay thì hái bằng gì?).

Các bạn chung nhà của tôi rất thích mỗi khi tôi mang món này về và thường bắt chước quảng cáo nói đùa “chín dưới ánh mặt trời, mới hái bằng tay với tất cả tình thương yêu trìu mến”. Đặt những trái dâu sương đen thẫm mọng nước căng tròn vào đĩa sứ, rưới yaourt trắng muốt lên trên trông thật ngon mắt, chỉ nhìn đã có thể tưởng tượng vị dâu sương vỡ ra trong miệng khi cắn. Đặc biệt, dâu sương trong bụi cây tôi hái không trái nào ăn giống trái nào, vị ngọt thanh của mỗi trái mang mỗi sắc thái khác nhau, quyện với yaourt lành lạnh thật hòa hợp.

Những trái dâu sương đen thẫm mọng nước căng tròn, rưới yaourt trắng muốt
Có hình dáng hơi giống dâu sương nhưng màu đỏ tươi, trái mâm xôi (raspberry) không mọc hoang mà phải được trồng. Vườn nhà Alastair bạn tôi ở Harpenden có một bụi lớn, tôi thường mang ủng ra hái vì đất dưới bụi cây sau cơn mưa thường rất nhão và trơn. Rất dễ tìm trái mâm xôi vì màu đỏ nổi bật trên nền lá xanh có răng cưa, trông xa hơi giống lá nho. Đặt những trái mâm xôi tươi rói lăn qua lăn lại, trái chín cây mềm mại trên tay tỏa mùi thơm mát dễ chịu. Chúng tôi đứng cạnh bụi mâm xôi, hái trái nào ăn trái nấy tại vườn tràn ngập nắng, có lần vì ham hái quá bị gai cào xước tay mà không hay biết, vẫn thấy mùa hè châu Âu thật dễ chịu biết bao! Ăn không hết chúng tôi mới mang vào nhà để dành ăn với bánh phô mai mới nướng hoặc với kem lạnh hương rượu thơm nồng vào những buổi chiều hè mặt trời lặn lúc 11g khuya.

Dave, anh bạn chủ nhà của tôi ở London, chưa tới ba mươi tuổi nhưng tay nghề làm vườn “trình độ” như những người trung niên. Mảnh vườn nhỏ nhắn gọn gàng được chia thành từng luống xinh xắn, luống hoa diên vĩ vàng chen tím, luống hoa cúc trắng, luống hoa phong lữ đỏ, luống xà lách xanh rờn, luống đậu, luống bạc hà..., và đặc biệt tôi rất để ý luống dâu tây (strawberry) của anh. Đây có lẽ là loại trái duy nhất đề cập ở đây có ở VN.

Không phải chuộng ngoại và không nói ngoa chút nào: dâu tây ở... Tây ngon hơn dâu tây Đà Lạt rất nhiều: trái căng tròn được mặt trời xối lên những tia nắng hè chuyển màu từ xanh sang đỏ ối. Luống dâu nhà Dave lúp xúp dưới đất trái trĩu xuống đụng cả vào nền rải sỏi, đi không để ý rất dễ giẫm vào và không khỏi xuýt xoa tiếc nuối. Dâu và kem (không phải kem lạnh - ice cream - mà là kem đặc quánh) là món tráng miệng đúng nghĩa của mùa hè, cầm trái dâu đỏ còn nguyên cuống lá quệt vào kem dẻo mịn rồi đưa lên mũi, nghe mùi nắng và gió hè, mùi đất ngai ngái của lùm dâu, mùi những cánh đồng miền quê nước Anh có đàn bò sữa gặm cỏ, rồi cắn ngập răng vào trái dâu thơm mát quyện mùi kem béo ngậy tan trên đầu lưỡi.

Thiên đường berry mùa hè của tôi còn nhiều, nhiều lắm. Những trái dâu xanh (blueberry) màu xanh tím tròn trĩnh to bằng móng tay có núm ở dưới cuống trông thật ngộ. Những trái man việt quất (cranberry) chua thanh nổi tiếng một phần nhờ tên ban nhạc The Cranberries với những bản alternative rock. Những trái dâu rượu vang (elderberry) không ăn được nhưng thường ngâm đường để làm nước trái cây hoặc rượu vang...
Tháng chín, tháng mười đã bắt đầu cuối hè, vào thu, một trong những thú vui đơn giản của tôi là mang hộp ra hái các loại berry, ăn không hết phải làm mứt để ăn dần khi trái mùa. Mứt ở nhà làm bao giờ cũng nhiều trái cây hơn, ít đường hơn mứt làm công nghiệp. Đặc biệt mứt berry của nhà lúc nào cũng có những phần trái cây chưa tan hết, ram ráp trên đầu lưỡi thật ngon, ăn với bánh mì mới nướng kèm bơ vào bữa sáng.

Những hộp mứt thắt nơ xinh xinh để trên chạn bếp ấy như thu gọn cả mùa hè vào trong, để những ngày thu lành lạnh, những ngày đông rét mướt người ăn ngồi nhớ nắng hè. Và đến mùa xuân khi hoa ở những lùm berry bung cánh trắng hồng, những hộp mứt cũng vừa sắp hết. Nhưng có hề gì vì cũng đã sắp đến hè, sắp đến mùa thiên đường berry trở lại thôi.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2007

Và cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn...

Dân Anh gần đây về tới nhà là mở kênh truyền hình BBC News 24 theo dõi xem tình hình khủng bố đến đâu. Nhiều người cho rằng bọn khủng bố không tấn công những thành phố lớn của Anh như Birmingham hay Manchester mà nhắm Glasgow vì muốn “dằn mặt” thủ tướng Anh mới nhậm chức, ông Gordon Brown là người Scotland.

Người dân Anh tụ họp chật kín trên quảng trường trung tâm Trafalgar ở London xem lễ khai mạc vòng đua xe đạp Tour de France ngày 6-7. Ảnh: Reuters

Mấy ngày vừa qua tôi nhận không biết bao nhiêu email của người nhà, bạn bè lo lắng hỏi thăm tình hình London “tên bay, đạn lạc” và nhắc nhở phải cẩn thận khi ra đường, tránh dùng phương tiện công cộng, nếu ở nhà được thì ở nhà luôn đi...

Trời đất, tránh dùng phương tiện công cộng thì đi lại bằng gì? Đi taxi là chuyện không tưởng vì đâu phải ai cũng đi làm gần nhà. Tự lái xe thì mỗi ngày London bắt mỗi chủ ôtô phải trả 8 bảng, tương đương 250.000 đồng, tiền gọi nôm na là “phí kẹt xe” nhằm hạn chế số lượng xe lưu thông trong thành phố giờ cao điểm. Đó là chưa kể phí đậu xe và tiền xăng đắt gần như nhất thế giới. Vậy là dù có sợ khủng bố cách mấy, người người cũng phải bắt xe điện ngầm hay xe buýt mà đi làm.

Trong thuật ngữ marketing có cụm từ “khách hàng mục tiêu”. Nếu bọn khủng bố cũng có khách hàng mục tiêu (sản phẩm tiêu thụ là... bom) thì tôi và lượng hành khách dùng phương tiện công cộng mỗi ngày ắt hẳn là tâm điểm. Hằng ngày tôi phải bắt một chuyến tàu tới King's Cross St. Pancras, bến tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất London, nơi rất nhiều người bị đánh bom chết cách đây hai năm, rồi tiếp tục chạy tất tả bắt chuyến khác đến một trạm xe lửa khác để đi về hướng tây. Nhưng mọi việc rồi cũng đâu vào đấy, riết rồi tôi cũng giống dân Anh, có nghe báo động mặt cũng lạnh như tiền.

Bạn đừng nghe nói vậy mà nghĩ dân Anh quả cảm gan dạ, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Không đâu, dân Anh cũng sợ chết không kém ai. Có điều một phần vì tính cách vốn ít biểu lộ cảm xúc, một phần vì đã quá quen thuộc với những gì đang diễn ra nên trông ai cũng tỉnh như không.

Cách đây gần một tháng, tôi đang đi xe điện ngầm thì loa thông báo gì đó rồi đèn trong toa tắt ngúm. Do đang nghe nhạc từ headphone nên tôi phải hỏi người ngồi cạnh. Ông này nhún vai: “Loa thông báo có nghi ngờ sự cố, biểu mình xuống”. Tôi lật đật bước ra, thấy ông vẫn ngồi yên, mới quay đầu lại hỏi: “Sao ông không xuống?”, ông nhún vai thêm cái nữa: “Tôi sắp trễ rồi, phải tranh thủ đi”. May mà tuyến đó không việc gì, nếu không sau này tôi sẽ phải ân hận sao không can ngăn ông ấy đừng đi.

Còn buổi sáng 30-6, tôi đi từ King's Cross (lại King's Cross) tới Knightbridges, loa thông báo có sự cố nên tàu sẽ không dừng tại Piccadilly Circuss mà đi thẳng; mọi người vẫn tỉnh bơ dừng lại trạm gần nhất để bắt xe buýt đi Piccadilly. Mãi khi về nhà tôi mới biết đêm hôm trước có hai chiếc xe đặt bom tại Piccadilly. Lạy trời!

Một người bạn của tôi mới về từ sân bay Heathrow cho biết ở đó vẫn hoạt động bình thường. Tôi tưởng tượng ngay những màn hình lớn nhấp nháy thông tin những chuyến bay:

Tokyo, New York, Sydney, Zurich, Amsterdam, Dubai, Singapore, Johannesburg... Những màn hình lớn thu gọn cả thế giới trong sân bay. Sau những phập phồng cảnh giác cao độ, mọi thứ đã trở lại quĩ đạo bình thường.
_______________
Viện Công tố hoàng gia Anh xác nhận đã có bằng chứng đầy đủ để buộc tội tên Bilal Abdullah, một trong tám nghi can bị bắt sau các vụ tấn công bất thành tại London và sân bay Glasgow vào các ngày 29 và 30-6.

Với lời buộc tội này, tên Bilal phải ra tòa tại London trong ngày 7-7 với tội danh “âm mưu gây nổ”. Bilal Abdullah là bác sĩ làm việc ở Bệnh viện hoàng gia Alexandra ở Paisley (Scotland), bị cảnh sát bắt ngày 30-6 tại sân bay Glasgow sau khi lái một chiếc xe jeep bốc cháy lao vào sân bay. Tất cả tám nghi can bị bắt cho đến nay đều từng làm việc hoặc đang làm việc tại các bệnh viện trong hệ thống y tế quốc gia Anh.